Kiến thức quản trị doanh nghiệp (Phần 2)

Kinh tế - Xã hội 6 tháng đầu năm khởi sắc ở hầu hết các ngành, lĩnh vực​

Theo thông báo từ Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư công bố, kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2022 của nước ta đã khởi sắc ở hầu hết các ngành, lĩnh vực; GDP tăng 6,42%.
Mặc dù nằm trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế thế giới được dự báo giảm sau hai năm bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 và tác động từ cuộc xung đột giữa Nga và Ucraina, nhưng nền kinh tế Việt Nam đang lấy lại đà tăng trưởng với nhiều ngành, lĩnh vực khởi sắc. Đáng chú ý, một số ngành đã có mức tăng cao hơn trước khi dịch Covid-19 xuất hiện như: Công nghiệp chế biến, chế tạo; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng; xuất khẩu hàng hóa…
Theo báo cáo, tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý II năm 2022 ước tính tăng 7,72% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn tốc độ tăng của quý II các năm trong giai đoạn 2011-2021.
Tính chung 6 tháng, GDP tăng 6,42%, cao hơn tốc độ tăng 2,04% của 6 tháng đầu năm 2020 và tốc độ tăng 5,74% của 6 tháng đầu năm 2021 nhưng thấp hơn tốc độ tăng 7,28% và 6,98% của cùng kỳ năm 2018 và 2019.
Thang7-15_GDP.webp

Ảnh: Tính chung 6 tháng năm 2022, GDP tăng 6,42%, cao hơn tốc độ tăng 5,74% của 6 tháng đầu năm 2021
Trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế 6 tháng đầu năm, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,78% (đóng góp 5,07%); khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 7,70% (đóng góp 48,33%), trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực tăng trưởng của toàn nền kinh tế với mức tăng 9,66%; khu vực dịch vụ tăng 6,60% (đóng góp 46,60%), trong đó các ngành dịch vụ thị trường như: Bán buôn và bán lẻ tăng 5,82%; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 9,5%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 11,19%; ngành vận tải, kho bãi tăng 8,13%.
Về cơ cấu nền kinh tế 6 tháng đầu năm 2022, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 11,05%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 39,30%; khu vực dịch vụ chiếm 40,63%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 9,02%.
Về sử dụng GDP 6 tháng đầu năm 2022, tiêu dùng cuối cùng tăng 6,06% so với cùng kỳ năm 2021; tích lũy tài sản tăng 3,92%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 9,10%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 4,41%.
Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 6 tháng đầu năm 2022 vẫn giữ mức tăng khá trong bối cảnh ảnh hưởng bởi thời tiết diễn biến thất thường từ đầu quý II/2022 và giá vật tư đầu vào tăng cao. Sản lượng một số cây lâu năm chủ yếu tăng so với cùng kỳ; chăn nuôi lợn và gia cầm phát triển ổn định; hoạt động khai thác và tiêu thụ gỗ có nhiều khởi sắc; nuôi trồng thủy sản tăng trưởng tốt do nhu cầu tiêu dùng và giá xuất khẩu tăng. Tuy nhiên sản lượng thủy sản khai thác biển giảm do giá xăng dầu tăng cao, nhiều tàu cá nằm bờ. Sản lượng lúa đông xuân giảm do chuyển đổi diện tích đất trồng lúa và thời tiết không thuận lợi.
Sản xuất công nghiệp trong quý II/2022 tăng trưởng khá do hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được duy trì và đang dần phục hồi, tốc độ tăng giá trị tăng thêm ước đạt 9,87% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2022, giá trị tăng thêm ngành công nghiệp tăng 8,48% so với cùng kỳ năm trước, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,66%.
Cùng với sự phục hồi của nền kinh tế, tình hình đăng ký doanh nghiệp trong 6 tháng đầu năm 2022 ghi nhận nhiều tín hiệu khởi sắc. Số doanh nghiệp gia nhập và quay trở lại hoạt động trong 6 tháng đầu năm đạt 116,9 nghìn doanh nghiệp (lần đầu tiên vượt mốc 100 nghìn doanh nghiệp).
Theo báo cáo, thực hiện Chương trình hồi phục và phát triển kinh tế - xã hội của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tiếp tục giữ nguyên mức lãi suất điều hành, tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức tín dụng giảm lãi suất cho vay, hỗ trợ nền kinh tế khôi phục trở lại. Hoạt động kinh doanh bảo hiểm tăng trưởng ổn định; thị trường chứng khoán chịu ảnh hưởng từ biến động của chứng khoán toàn cầu, trong đó mức vốn hóa thị trường cổ phiếu tính đến ngày 15/6/2022 giảm 18,4% so với cuối năm 2021.
Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trong 6 tháng đầu năm 2022 theo giá hiện hành ước đạt 1.301,2 nghìn tỷ đồng, tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam đạt mức cao nhất so với 6 tháng đầu năm của các năm 2018-2022, đây là động lực quan trọng đóng góp cho tăng trưởng 6 tháng đầu năm và cả năm 2022.
Tính chung 6 tháng đầu năm 2022, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 371,17 tỷ USD, tăng 16,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 17,3%; nhập khẩu tăng 15,5%. Cán cân thương mại hàng hóa 6 tháng đầu năm ước tính xuất siêu 710 triệu USD.
Giá xăng dầu trong nước liên tục tăng cao theo giá nhiên liệu thế giới; giá hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thiết yếu tăng theo giá nguyên liệu đầu vào và chi phí vận chuyển là những nguyên nhân chủ yếu làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6/2022 tăng 0,69% so với tháng trước; tăng 3,18% so với tháng 12/2021 và tăng 3,37% so với cùng kỳ năm trước; bình quân 6 tháng đầu năm, CPI tăng 2,44% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tăng 1,25%. Chỉ số giá sản xuất, chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất, chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu quý II và 6 tháng đầu năm 2022 đều tăng so với cùng kỳ năm 2021.

Xem thêm: Phần mềm BRAVO 8R2 ERP - VN
 

Du lịch Việt Nam phục hồi ấn tượng, doanh thu nửa đầu 2022 tăng gần 95%​


Vượt “bão Covid” thành công, ngành du lịch Việt Nam đang trên đà phục hồi ấn tượng, đặc biệt du lịch nội địa trên đà bùng nổ. Ước tính 6 tháng đầu năm, du lịch Việt Nam đã phục vụ 60,8 triệu lượt khách nội địa, chính thức đạt kế hoạch cả năm.
Mức tăng trưởng ấn tượng

Từ đầu năm đến nay, hoạt động du lịch nội địa chứng kiến sự bùng nổ, thể hiện bởi lượng du khách tăng trưởng mạnh qua các tháng. Theo số liệu của Tổng cục Du lịch, trong tháng 5 và tháng 6/2022 lượng khách nội địa lần lượt đạt 12 triệu và 12,2 triệu lượt. Đây là lượng khách nội địa trong một tháng cao nhất tại Việt Nam những năm gần đây. Nhờ đó, tổng lượng khách du lịch nội địa 6 tháng đầu năm 2022 đạt 60,8 triệu lượt (gấp gần 1,4 lần cùng kỳ năm 2019), trong đó có khoảng 8,3 triệu lượt khách lưu trú. Tổng thu từ khách du lịch ước đạt 265.000 tỷ đồng.
Một tín hiệu khá lạc quan là khách quốc tế đến Việt Nam cũng được ghi nhận đang trên đà tăng trở lại. Số liệu từ Tổng cục Thống kê cho biết trong tháng 5, Việt Nam đón 172.900 lượt khách quốc tế, tăng 70,6% so với tháng trước và gấp 12,8 lần so với cùng kỳ năm ngoái. Tính chung 6 tháng đầu năm 2022, khách quốc tế đến nước ta đạt 602 nghìn lượt người, gấp 6,8 lần so với cùng kỳ năm trước nhưng vẫn giảm 92,9% so với cùng kỳ năm 2019 - năm chưa xảy ra dịch Covid-19.
Thang7_21_phuc-hoi-du-lich-1.webp

Trong 6 tháng đầu năm, nhiều điểm đến trên cả nước có sự phục hồi mạnh mẽ cả về lượng khách và doanh thu từ du lịch.
Dữ liệu từ công cụ theo dõi xu hướng thị trường của Google cũng cho thấy lượng tìm kiếm quốc tế về du lịch Việt Nam đang tăng trưởng khoảng 50 - 75%, mức tăng cao thứ 4 thế giới. Nguồn khách quay lại ấn tượng hỗ trợ rất lớn cho các doanh nghiệp ngành du lịch phục hồi sau đại dịch.
Phục hồi du lịch đi kèm với nỗ lực chuyển đổi số
Để tăng tốc phục hồi phát triển du lịch thì chuyển đổi số là yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh xã hội số, kinh tế số hiện nay.
Chuyển đổi số trong lĩnh vực du lịch được hiểu là hình thành hệ sinh thái du lịch thông minh, trong đó bao hàm và gắn kết các thành tố như cơ quan quản lý, doanh nghiệp, điểm đến và khách du lịch. Ngày càng nhiều dịch vụ du lịch tại Việt Nam được du khách tiếp cận qua nền tảng số như đại lý du lịch trực tuyến (OTA), đặt phòng trực tuyến, thanh toán điện tử,…
Có thể nói, kinh tế số thúc đẩy sự lan tỏa của ngành du lịch, khiến ngành du lịch hình thành những đòi hỏi mới về trải nghiệm. Thông qua dữ liệu lớn và thuật toán thông minh, nhu cầu của khách hàng được phát hiện một cách chính xác. Mọi tìm kiếm và nhấp chuột trên Internet đều có thể phác họa nhanh chân dung người dùng. Bằng cách đó, người tiêu dùng sẽ dễ dàng tiếp cận các sản phẩm du lịch đáp ứng nhu cầu của họ, thậm chí kích thích họ phát sinh nhu cầu và ham thích tiêu dùng mới.
Thang7_21_phuc-hoi-du-lich-2.webp

Nhờ những công nghệ mới như AI, Big Data, Blockchain…, nhu cầu của khách hàng được đáp ứng một cách chính xác.
Theo Báo cáo chỉ số năng lực phát triển du lịch toàn cầu năm 2021 của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) phát hành ngày 24/5/2022, du lịch Việt Nam tăng 8 bậc xếp hạng so với năm 2019. Trong 17 chỉ số trụ cột, chỉ số “Mức độ sẵn sàng về công nghệ thông tin và truyền thông” được xếp hạng 54, thuộc nhóm trung bình cao của thế giới.
Trước đó, ngày 22/01/2021, Thủ tướng chính phủ đã ký Quyết định Phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030. Một trong những quan điểm trọng tâm của chiến lược là “Phát triển du lịch theo hướng chuyên nghiệp, chất lượng, hiệu quả; đẩy mạnh ứng dụng những thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao”.
Trong khuôn khổ Hội chợ VITM Hà Nội 2022, Trung tâm Thông tin du lịch (Tổng cục Du lịch) chính thức giới thiệu hàng loạt sản phẩm công nghệ nổi bật trong hệ sinh thái du lịch thông minh, bao gồm các ứng dụng du lịch, thẻ du lịch thông minh, hệ thống vé điện tử, hệ thống dashboard phục vụ quản lý điều hành; hệ thống cơ sở dữ liệu ngành du lịch...
Từ tháng 5/2022, Trung tâm hoạt động Văn hóa khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám chính thức triển khai chuyển đổi số thông qua áp dụng hệ thống vé điện tử và dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt, được nhiều du khách đánh giá cao.
Đặc biệt, thời gian vừa qua, Tổng cục Du lịch ra mắt chuyên trang quảng bá du lịch Việt Nam chào mừng SEA Games 31, thành công quảng bá và lan tỏa hình ảnh du lịch của 12 tỉnh, thành phố đăng cai tổ chức các môn thi đấu. Đây là một trong những cú hích mạnh đưa ngành du lịch Việt bứt tốc.
Tới đây cùng với sự phục hồi của thị trường quốc tế, ngành du lịch Việt Nam đứng trước yêu cầu tái thiết với tính chất bao trùm hơn, bền vững và linh hoạt hơn. Điều này đòi hỏi sự cân nhắc chu đáo và hiệu quả, tận dụng các động lực và chiến lược phát triển. Các cơ quan chức năng cũng cần có những chính sách cụ thể, kịp thời giúp các doanh nghiệp giữ được nhịp độ tăng trưởng, nhanh chóng nâng cấp dịch vụ, hồi phục đồng bộ để du lịch Việt Nam có thể tăng trưởng bền vững.

Xem thêm: Phần mềm BRAVO 8R2 ERP
 

Tỷ lệ giá trị Make in Vietnam có thể đạt 41,4 tỷ USD trong năm 2022​

Dự kiến, tỷ lệ giá trị Make in Vietnam sẽ tăng lên 27% tương đương giá trị 41,4 tỷ USD trong năm 2022.
Nửa đầu năm 2022, ngành công nghiệp ICT đạt mức tăng trưởng 2 con số và là một trong những ngành có doanh thu tăng trưởng cao nhất trong các nhóm ngành.
Theo số liệu thống kê, tính đến tháng 6/2022, tỷ lệ giá trị Make in Vietnam trong cơ cấu doanh thu công nghiệp ICT đạt 26,72% với giá trị ước đạt khoảng 19,4 tỷ USD. Dự kiến đến hết năm 2022, tỷ lệ giá trị Make in Vietnam sẽ tăng lên 27% tương đương giá trị 41,4 tỷ USD.
Thang7_28_ICT.webp

Tỷ lệ giá trị Make in Vietnam đạt trên 26%. Ảnh minh họa
Trước làn sóng chuyển dịch đầu tư, Việt Nam đang là điểm đến thu hút đầu tư của nhiều tập đoàn công nghệ lớn và nằm trong nhóm các quốc gia dẫn đầu trong sản xuất điện thoại, máy tính hay các sản phẩm điện tử. Cơ cấu doanh thu cho thấy, khối FDI vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong doanh thu của ngành công nghiệp ICT. Tuy nhiên, tỷ lệ giá trị Việt Nam trong cơ cấu doanh thu ngành đang tăng theo từng năm. Theo số liệu của Bộ TT&TT năm 2021, tỷ lệ giá trị Việt Nam trong doanh thu ngành đạt 24,65%.
Nửa đầu năm 2022 cũng cho thấy sự tăng trưởng mạnh của các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghệ số. Hiện Việt Nam có khoảng 67.300 doanh nghiệp, tăng 3.422 so với tháng 12/2021, đạt tỷ lệ xấp xỉ khoảng 0,69 doanh nghiệp/1.000 dân.
Các doanh nghiệp Việt Nam cũng đang có một số bước tiến trong việc nghiên cứu các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao. Tính đến tháng 7/2022, thiết bị 5G do doanh nghiệp Việt Nam nghiên cứu, sản xuất đã đầy đủ ở các phân lớp hệ thống mạng 5G (mạng lõi, mạng truyền dẫn, mạng truy cập) và được triển khai lắp đặt trên mạng lưới để cung cấp dịch vụ ở một số khu vực diện rộng với tốc độ download 1.5 Gbps, upload 60Mbps.
Theo kế hoạch trước đó, năm 2022, Bộ TT&TT sẽ tham mưu xây dựng Luật Công nghiệp Công nghệ số nhằm thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về phát triển công nghiệp công nghệ số. Xây dựng và bảo vệ được không gian tăng trưởng và phát triển kinh tế số dựa trên các hoạt động nghiên cứu, sáng tạo, sản xuất, cung cấp, ứng dụng các sản phẩm, dịch vụ của ngành công nghệ số Việt Nam.
Định hướng đến năm 2025, ngành công nghiệp CNTT, điện tử viễn thông với tầm nhìn và sứ mệnh mới là dịch chuyển từ gia công, lắp ráp sang Make in Vietnam, làm sản phẩm tại Việt Nam, làm chủ công nghệ, sáng tạo công nghệ, trong đó tỷ trọng Make in Vietnam vào năm 2025 đạt trên 45%.
Phát triển 4 loại hình doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam đạt số lượng 100.000 doanh nghiệp vào năm 2025. Hình thành ít nhất 10 doanh nghiệp công nghệ số đóng vai trò dẫn dắt, có năng lực cạnh tranh quốc tế với doanh thu trên 1 tỷ USD.

Xem thêm: Phần mềm quản trị doanh nghiệp của BRAVO
 

Việt Nam sẵn sàng tiến vào kỷ nguyên xe điện với VinFast​


Việt Nam sẵn sàng tiến vào kỷ nguyên xe điện với VinFast

Theo các chuyên gia, với sự sẵn sàng của người dùng, sản phẩm chất lượng tốt cùng hệ sinh thái “xanh” đang phát triển nhanh chóng, xe điện VinFast sẽ là chất xúc tác đưa “kỷ nguyên xe điện” tại Việt Nam tới sớm hơn dự kiến.
Ô tô điện: Từ tân binh đến top xe bán chạy bậc nhất thị trường

Chiếc xe thuần điện đầu tiên mang tên Nissan Leaf cập bến Việt Nam từ gần 10 năm trước (2014), dù đặc biệt nhưng chỉ gợi lên chút tò mò. Chỉ tới tháng 3/2021, khi mẫu xe điện Made in Vietnam đầu tiên VF e34 xuất hiện, thị trường mới thực sự dậy sóng.
Hàng nghìn người đua nhau đặt hàng và tạo nên làn sóng "khoe" xác nhận đơn cọc trên mạng xã hội như biểu trưng cho những con người cấp tiến, hiện đại. Kỉ lục được tạo dựng sau đó chỉ 3 tháng với 25.000 đơn đặt cọc - một con số chưa từng thấy trên thị trường.
Rõ ràng, đã có sự thay đổi trong nhận thức của thị trường về xe điện. 7 năm là quãng thời gian đủ để người Việt cảm nhận rõ rệt ảnh hưởng nặng nề từ ô nhiễm không khí.
Sau những háo hức ban đầu, chiếc xe điện Việt thuyết phục được người dùng nhờ chất lượng đẳng cấp, thiết kế đẹp, giá bán hợp lý và hàng loạt những cổng sạc "mọc" lên rộng khắp cả nước, nhanh chóng đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Thang8_3_ky-nguyen-xe-dien-1.webp

Hệ thống trạm sạc được VinFast đầu tư xây dựng rộng khắp trên cả nước.
Thực tế, một cuộc khảo sát trực tuyến mới được thực hiện bởi một sàn giao dịch ô tô hàng đầu tại Việt Nam đối với 1.174 khách hàng trong độ tuổi tiềm năng mua ô tô (trên 24 tuổi) cho thấy, 82% người được hỏi đều quan tâm và tìm hiểu về ô tô điện. Gần một nửa (hơn 46%) trong số đó khẳng định chắc chắn sẽ lựa chọn mua ô tô điện trong 12 tháng tới.
Khảo sát cũng cho thấy rằng, sự tối ưu về chi phí khi mua và sử dụng xe là yếu tố được khách hàng Việt quan tâm khi lựa chọn xe điện. Điều này là dễ hiểu bởi khi giá xe ô tô tại Việt Nam vốn được coi là cao so với mức thu nhập bình quân của mỗi hộ gia đình, thì chính sách ưu đãi thuế hiện nay cho ô tô điện hay chính sách cho thuê pin của VinFast đang tạo ra sức cạnh tranh rất lớn cho phương tiện "xanh". Chi phí bảo dưỡng, sửa chữa của ô tô điện rẻ hơn hẳn so với ô tô truyền thống cũng là một lý do quan trọng để xe điện thu hút được nhiều sự chú ý.
Thang8_3_ky-nguyen-xe-dien-2.webp

Ô tô điện thu hút sự chú ý và quan tâm đặc biệt của người tiêu dùng kể từ khi VinFast chính thức ra mắt các dòng sản phẩm đầu tiên.
Cơ hội vàng thúc đẩy "kỷ nguyên xe điện"
Theo Tiến sĩ ngành tự động hoá gốc Việt Trudel Huynh (Trường ĐH Khoa học ứng dụng HAN, Hà Lan) - người đã có gần 10 năm nghiên cứu xe điện, VinFast có lợi thế khách quan khi thị trường ô tô trong nước còn nhiều dư địa và người dùng sẵn sàng tiếp nhận công nghệ mới. Theo ông, ở góc độ xã hội, hiện tại là thời điểm vàng để người Việt chuyển đổi thói quen sử dụng từ những phương tiện phát thải sang không phát thải.
"Tầng lớp trung lưu tại Việt Nam đang phát triển nhanh nhất khu vực, dân số đông trong khi tỉ lệ người sở hữu xe còn thấp, chỉ khoảng hơn 20 xe/1.000 người, bằng 1/10 Thái Lan, thậm chí là 1/20 của nhiều nước khác trong khu vực", vị tiến sĩ phân tích.
Ông Trudel Huynh cho rằng, nhu cầu thị trường lớn trong khi xe điện ngày càng thể hiện được ưu thế sẽ khiến số lượng người lựa chọn phương tiện xanh tăng trưởng nhanh. Việt Nam hiện có lớp người trẻ nhận thức tốt, được làm quen với những sản phẩm xanh từ sớm. Chỉ trong một vài năm nữa, những phương tiện thân thiện với môi trường chắc chắn không chỉ là thói quen mà sẽ trở thành một phần của văn hóa giao thông.
Về chính sách cho xe điện tại Việt Nam đang có chiều hướng tích cực, nhìn từ một số quyết sách gần đây như miễn phí trước bạ hay quy định ưu đãi thuế tiêu thụ đặc biệt với ô tô điện. Chính phủ Việt Nam tại COP26 cũng đã có cam kết về việc giảm phát thải bằng 0 vào năm 2050 và xe điện sẽ càng có tiềm năng phát triển đột phá.
Một cơ hội lớn khác giúp Việt Nam đang đi trước các nước là sớm có ngành công nghiệp ô tô điện với người tiên phong VinFast - điều mà Thái Lan, Indonesia đang phải chạy đua để thu hút nhà sản xuất. Hãng này cũng đã thúc đẩy rất mạnh mẽ các hoạt động ra thị trường thế giới, tại Mỹ, Canada và Châu Âu, cho thấy sự quyết tâm của hãng với việc đưa ra những sản phẩm xe điện đẳng cấp.
Bên cạnh đó, một hệ sinh thái "xanh" khổng lồ cho xe điện cũng đang được VinFast xây dựng, đơn cử là quy hoạch 150.000 cổng sạc rộng khắp 63 tỉnh thành trong năm 2022 - một tốc độ phát triển theo các chuyên gia đánh giá là "khủng khiếp". Đây chính là cơ hội vàng đưa kỉ nguyên xe điện tại Việt Nam tới nhanh hơn.

Xem thêm: Phần mềm kế toán phù hợp của BRAVO
 

Hòa Phát là doanh nghiệp tư nhân lớn nhất Việt Nam năm thứ 2 liên tiếp​


Ngày 17/11/2023, Công ty CP Báo cáo Đánh giá Việt Nam (Vietnam Report) phối hợp cùng Báo VietnamNet công bố Bảng xếp hạng VNR500 – Top 500 Doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam năm 2023. Tập đoàn Hòa Phát tiếp tục giữ vững vị trí số 1 trong Top 10 DN tư nhân lớn nhất Việt Nam và xếp thứ 8 trong Top 10 DN lớn nhất Việt Nam năm 2023.
Thang11-24-bai-hoa-phat-1.png
Đây là năm thứ 17 danh sách này được công bố, nhằm tìm kiếm, ghi nhận và tôn vinh những thành tích của các doanh nghiệp có quy mô lớn, duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả và ổn định, những doanh nghiệp đã cho thấy bản lĩnh kiên cường trước những cơn sóng biến động bất ngờ từ bối cảnh quốc tế và sự giảm tốc tăng trưởng của nền kinh tế.
Theo đó, Tập đoàn Hòa Phát có 16 năm liên tiếp được vinh danh. Năm 2023, Tập đoàn Hòa Phát dẫn đầu Top 10 doanh nghiệp tư nhân lớn nhất Việt Nam lần thứ 2 liên tiếp. Ở bảng Top 10 DN lớn nhất Việt Nam năm 2023, Hòa Phát đứng vị trí thứ 8.
Tiêu chí chính để xếp hạng doanh nghiệp trong danh sách này là doanh thu, theo mô hình Fortune 500 (Mỹ). Ngoài ra, VNR500 còn xét đến các yếu tố tổng tài sản, tổng số lao động, tốc độ tăng trưởng, lợi nhuận, uy tín doanh nghiệp trên truyền thông để đánh giá hiện trạng sức mạnh tổng thế của doanh nghiệp.
Thang11-24-bai-hoa-phat-2.png
Năm 2022, doanh thu của Hòa Phát đạt 142.771 tỷ đồng. Lũy kế 9 tháng 2023, doanh thu của Tập đoàn là 85.430 tỷ đồng. Hoạt động sản xuất kinh doanh và vị thế ngành hàng cốt lõi được giữ vững. Trong lĩnh vực thép, Hòa Phát không chỉ giữ thị phần số 1 Việt Nam ở các lĩnh vực thép xây dựng, ống thép, Top 5 doanh nghiệp tôn mà còn dẫn đầu miền Bắc về sản lượng trứng gà sạch.
Ra đời từ năm 1992, Tập đoàn Hòa Phát hoạt động theo 5 lĩnh vực: Gang thép – Sản phẩm thép – Nông nghiệp – Bất động sản – Điện máy gia dụng. Hòa Phát sở hữu hệ sinh thái sản phẩm đa dạng chất lượng cao. Các sản phẩm thép của Tập đoàn nổi bật là thép xây dựng, thép cuộn cán nóng, thép chất lượng cao, thép dự ứng lực, ống thép, tôn mạ, container. Trong ngành điện máy gia dụng, Hòa Phát có hàng loạt sản phẩm như tủ đông, điều hòa, tủ lạnh, máy lọc nước, máy giặt, máy rửa bát, bếp từ, máy làm mát…
Tập đoàn đang hoạt động và đóng góp ngân sách nhà nước tại 28 tỉnh, thành phố trên cả nước. 9 tháng đầu năm 2023, Tập đoàn Hòa Phát đã nộp vào ngân sách Nhà nước hơn 6.300 tỷ đồng.

Xem thêm:
Phần mềm ERP của BRAVO.
 

Tối ưu hóa quy trình quản lý hợp đồng cùng phần mềm CMS mới​


Vừa qua, TCT đã chính thức giới thiệu và triển khai sử dụng phần mềm quản lý hợp đồng (CMS) tới toàn thể CBNV nhằm tối ưu hóa quy trình quản lý và đẩy mạnh quá trình chuyển đổi số. Phần mềm CMS mới không chỉ mang lại cho CBNV TCT một hệ thống quản lý khoa học và chuyên nghiệp mà còn có nhiều chức năng thuận tiện cho người sử dụng.

Với nhiều chức năng toàn diện, phần mềm CMS không chỉ dừng lại ở việc quản lý hợp đồng mà còn điều hành một loạt các khâu quan trọng khác như tạo phiếu nhận hàng hóa, hóa đơn và lập đề nghị thanh toán cho các CQĐV thuộc TCT. Điều này giúp tối ưu hóa quy trình nghiệp vụ và giảm thiểu thời gian xử lý từng bước, đồng thời đảm bảo tính chặt chẽ và nhất quán trong việc quản lý hợp đồng.
Một trong những điểm mạnh của CMS là khả năng tích hợp dữ liệu từ nhiều phần mềm khác nhau đang sử dụng tại TCT. Việc này không chỉ giúp cung cấp dữ liệu liên tục và đồng bộ cho CMS mà còn tối ưu hóa quá trình làm việc của CBNV. Các hệ thống như FIMS, AMASIS, LMS, PMS, GAS, và HĐ vay đều có thể chia sẻ dữ liệu một cách hiệu quả thông qua Database trung gian DWH.
CMS không chỉ giúp quản lý hợp đồng mà còn tích hợp tự động lấy hóa đơn từ cổng tra cứu hóa đơn điện tử MISABOT. Phần mềm sẽ kiểm tra và đối chiếu tính hợp lệ của hóa đơn điện tử một cách tự động, đảm bảo rằng mọi thanh toán đều được thực hiện theo quy định và tránh sai sót trong quá trình xử lý. Ngoài ra, phần mềm còn hỗ trợ đơn vị lập kế hoạch dựa trên nguồn dữ liệu sẵn có. Tính năng trên này giúp xây dựng kế hoạch chi phí, ngân sách, và mua sắm một cách hiệu quả. Hệ thống cũng cung cấp dữ liệu cho phần mềm Kế hoạch ngắn hạn (PMS) của TCT, hỗ trợ các CQĐV trong quá trình quản lý nguồn lực và tài chính.

chu-ky-so.png
Với việc tích hợp chữ ký số và chữ ký điện tử trong phần mềm, TCT đã đưa ra một giải pháp mạnh mẽ để giải quyết những khó khăn trong quá trình lập hồ sơ và phê duyệt chứng từ.
Đặc biệt, với việc tích hợp chữ ký số và chữ ký điện tử trong phần mềm, TCT đã đưa ra một giải pháp mạnh mẽ để giải quyết những khó khăn trong quá trình lập hồ sơ và phê duyệt chứng từ. Quy trình xác nhận và phê duyệt trở nên thuận tiện và nhanh chóng hơn đáng kể. Chẳng hạn, quá trình lập hồ sơ và chờ phê duyệt trước đây thường đòi hỏi nhiều bước phức tạp. Các văn bản thường phải được gửi qua lại giữa các bộ phận và việc đợi lãnh đạo CQĐV ký duyệt có thể kéo dài thời gian của quy trình. Tuy nhiên, với chữ ký số, mỗi bước trong quy trình từ việc lập hồ sơ đến xác nhận phê duyệt đều được thực hiện nhanh chóng và tự động trên hệ thống, giảm thiểu tối đa các giấy tờ thanh toán cần in ra.
Tính năng này giúp giảm bớt thời gian chờ đợi mà còn tăng cường tính minh bạch và chính xác trong quy trình quản lý hợp đồng. Việc sử dụng chữ ký số không chỉ là một bước tiến quan trọng trong hành trình số hóa tại TCT mà còn đặt ra tiêu chí mới về hiệu suất và linh hoạt trong quản lý hợp đồng, hứa hẹn mang lại lợi ích lâu dài cho các CQĐV

Ba%CC%80i-4_A%CC%89nh-3.jpg
Với các chức năng và tính năng hiện đại, CMS đánh dấu một bước tiến mạnh mẽ trong chuyển đổi số của Vietnam Airlines.
Với các chức năng và tính năng hiện đại, CMS đánh dấu một bước tiến mạnh mẽ trong chuyển đổi số của Vietnam Airlines. Hệ thống không chỉ giúp tối ưu hóa quy trình nghiệp vụ mà còn mở ra nhiều cơ hội cho sự mở rộng và phát triển trong tương lai. Có thể nói, VNA cùng với đối tác Công ty công nghệ Bravo đã cùng nhau tạo nên một giải pháp hiệu quả, đáp ứng đầy đủ nhu cầu quản lý và kiểm soát hợp đồng cho các CBNV của VNA Group.
Chuyển đổi số tại Vietnam Airlines mang lại nhiều ý nghĩa quan trọng, đặc biệt trong bối cảnh ngành hàng không đang ngày càng chú trọng vào sự hiện đại hóa và tối ưu hóa quy trình. Cam kết của VNA trong việc nỗ lực chuyển đổi số, phát triển và áp dụng để nâng cao hiệu quả SXKD trong thời gian tới đã được cụ thể hóa và thể hiện thông qua thành công của dự án triển khai phần mềm CMS.

Xem thêm: Phần mềm kế toán phù hợp với các doanh nghiệp của BRAVO.
 

Đặt mục tiêu đưa Việt Nam vào top 8 toàn cầu về tỷ lệ sử dụng địa chỉ Internet IPv6​


Theo kế hoạch mới phê duyệt, năm 2024, Bộ TT&TT đặt mục tiêu đến hết tháng 12/2024, tỷ lệ sử dụng IPv6 trên mạng Internet Việt Nam đạt từ 65 – 80%, đưa Việt Nam vào nhóm 8 nước dẫn đầu thế giới về tỷ lệ sử dụng IPv6.
Bộ TT&TT vừa phê duyệt Kế hoạch chuyển đổi IPv6 Việt Nam, IPv6 For Gov năm 2024. Là phiên bản địa chỉ Internet thế hệ mới, IPv6 có không gian địa chỉ gần như vô hạn. Việc chuyển đổi sang sử dụng IPv6 là một yêu cầu tất yếu nhằm đảm bảo tài nguyên địa chỉ cho phát triển Internet, kết nối vạn vật, Internet công nghiệp, với các dịch vụ mới như Internet vạn vật, điện toán đám mây, mạng 5G/6G…
Theo đó, năm nay, Bộ TT&TT đặt mục tiêu đến hết tháng 12/2024, tỷ lệ sử dụng IPv6 trên mạng Internet Việt Nam đạt từ 65 – 80%, đưa Việt Nam vào nhóm 8 nước dẫn đầu thế giới về tỷ lệ sử dụng IPv6. Về chuyển đổi IPv6 trên mạng và dịch vụ của cơ quan Nhà nước, mục tiêu của năm 2024 là từ 90% đến 100% bộ, ngành, địa phương chuyển đổi IPv6 cho các cổng thông tin điện tử, cổng dịch vụ công.
Tỷ lệ sử dụng địa chỉ Internet IPv6

Đối với mạng và dịch vụ của doanh nghiệp, các chỉ tiêu cần đạt trong năm nay gồm có: Các tập đoàn VNPT, Viettel, FPT Telecom, MobiFone có 95% thuê bao FTTH, thuê bao di động hoạt động với IPv6; Tỷ lệ sử dụng IPv6 trên toàn mạng doanh nghiệp đạt từ 80% trở lên.
Các doanh nghiệp khác, gồm đơn vị cung cấp dịch vụ Internet – ISP, dịch vụ di động, trung tâm dữ liệu – IDC, dịch vụ đám mây, nội dung số và các thành viên địa chỉ Internet cũng được yêu cầu triển khai IPv6 cho mạng và dịch vụ của doanh nghiệp mình, với tỷ lệ sử dụng IPv6 phấn đấu đạt trong năm nay là 50%.
Bộ TT&TT cũng phân công cụ thể đơn vị chủ trì, phối hợp cho từng nhóm nhiệm vụ, với yêu cầu về công việc cần làm và kết quả, thời hạn phải hoàn thành. Bên cạnh việc lập kế hoạch tổ chức hội nghị về công tác chuyển đổi IPv6 năm 2024, 4 nhóm nhiệm vụ khác cần được tập trung trong năm nay là: Chuyển đổi IPv6 cho mạng Internet Việt Nam, IPv6 For Gov; Chương trình làm việc, giám sát, hỗ trợ chuyển đổi IPv6; Tập huấn, đào tạo; Công tác định hướng, tuyên truyền.
Theo số liệu của Bộ TT&TT, tính đến hết tháng 12/2023, tỷ lệ sử dụng IPv6 trên mạng Internet Việt Nam đạt 59%, xếp hạng thứ 2 ASEAN và thứ 9 thế giới. 100% hạ tầng Internet quan trọng quốc gia hoạt động với IPv6. Các nhà mạng cũng đã tích cực chuyển đổi IPv6, với 76,48 triệu thuê bao Internet băng rộng sử dụng IPv6 tính đến cuối năm ngoái, bao gồm cả thuê bao băng rộng cố định và di động.

Xem thêm: Phần mềm quản trị Nhân sự - Tiền lương của BRAVO.
 

CẨM NANG KẾ TOÁN TRƯỞNG


Liên hệ: 090.6969.247

KÊNH YOUTUBE DKT

Kỹ thuật giải trình thanh tra BHXH

Đăng ký kênh nhé cả nhà

SÁCH QUYẾT TOÁN THUẾ


Liên hệ: 090.6969.247

Top