Truyện ma có thật, anh em đóng góp thêm nhé (nhiều tác giả)

Ðề: Truyện ma có thật, anh em đóng góp thêm nhé (nhiều tác giả)

18. Phỏng vấn một con ma

4 vị khách bước vào phòng, nơi 1 người đàn ông khác - rất nhỏ, chỉ cao hơn 1 mét rưỡi 1 chút - vẫn còn đang ngồi trước bàn chơi.

- Bạn thân của tôi, Charles Grant, Rex giới thiệu. Charles ơi, đây là những cậu quan tâm đến Lâu Ðài Kinh Hoàng. Sao các cháu đã tìm thấy ma chưa?

- Dạ, rồi ạ - Hannibal trả lời bằng 1 giọng cương quyết. Chúng tôi đã giải được bí ẩn lâu đài.
Cậu có vẻ tự tin đến nỗi Peter và Bob kinh ngạc nhìn bạn. Phải chăng các cậu đã giải được 1 cái gì đó? Nếu có, thì Peter và Bob đã giải mà không hề hay biết.

- Thế à! Kẻ Thì Thầm nói. Vậy thì bí mật ấy là gì?

- Thế này. Chính ông và ông Grant là những con ma của lâu đài làm cho mọi người sợ. Ngoài ra, cách đây vài phút, các chú đã trói Peter Crentch và cháu, và các chú đã bỏ tụi cháu trong hầm kín.

1 nét hung dữ thoáng qua trên gương mặt của Kẻ Thì Thầm, hung dữ đến nỗi Warrington nắm chặt hơn tay cầm của cái búa.

- Cậu đưa ra 1 lời tố cáo rất nghiêm trọng, cậu ạ - Rex thì thầm. Và tôi dám cá cậu không đưa ra bằng chứng được.

Ðó chính là điều Peter đang nghĩ. Phải chăng Hannibal đã mất trí? 1 người phụ nữ Anh và 1 bà già Bôhem đã trói 2 tù nhân lại mà, có phải không?

- Các chú hãy nhìn xuống đôi giày mình, Hannibal đáp. Cháu đã đánh dấu hiệu của tụi cháu vào đó, trong khi các chú trói tụi cháu lại.

Tất cả mọi ánh mắt nhìn hướng xuống chân 2 người đàn ông.

Trên 4 chiếc giày, ngay chỗ ngón chân cái, có dấu chấm hỏi vẽ bằng phấn.

Mọi người kinh ngạc.

- Nhưng... Peter bắt đầu nói.

- Ðơn giản, các vị này mặc quần áo và tóc giả của phụ nữ - Hannibal nói. Mình đã đoán ra khi nhìn thấy giày đàn ông. Mình suy luận rằng 5 nhân vật bảo là bắt chúng ta thật ra chỉ có 2.

- 2 tên ả Rập thái tử phương Ðông, và 2 người phụ nữ đều là ông Rex và ông Grant sao? Peter sửng sốt hỏi.

- Cậu ấy nói đúng - ông Rex, có vẻ chịu hết nổi sự căng thẳng, thì thầm. Chúng tôi muốn giả danh 1 băng nhóm đông người để làm cho các cậu khiếp sợ. áo dài và áo đầm cởi ra mặc vào nhanh chóng như trở bàn tay. Nhưng tôi không muốn các cậu nghĩ rằng chúng tôi thật sự có ý định bỏ các cậu chết trong hầm giam kia. Tôi định giải thoát cho các cậu, thì bạn của các cậu đã nhìn thấy tôi.

- Chúng tôi không phải là kẻ sát nhân - ông Grant can thiệp vào. Chúng tôi cũng không phải là những tên buôn lậu. Chúng tôi là ma.

Ông cười ngắn, nhưng ông Rex xó vẻ nghiêm trang.

- Tôi, ông nói, thì tôi là kẻ sát nhân. Tôi đã giết chết Stephen Terrill.

- ồ! rất đúng - ông kia nói, y như đó là 1 chi tiết nhỏ mà ông đã quên mất. Anh đã giải quyết số phận ông ấy; nhưng thật ra cũng không quan trọng lắm.

- Tôi không tin rằng cảnh sát sẽ có cùng ý kiến như ông - Warrington trả lời. Các cậu ạ, tôi nghĩ đã đến lúc phải báo cảnh sát.

- Khoan đã! Kẻ Thì Thầm yêu cầu. Chờ 1 chút, và các người sẽ được nói chuyện với chính Stepehn Terrill.

- ý chú nói với ma của ông ấy? Peter lo lắng hỏi.

- Phải. Với ma của ông ấy, ma sẽ giải thích tại sao tôi đạ giết ông ấy...

Trước khi có ai kịp giữ ông lại, ông Rex đã sang phòng bên cạnh.

- Quý vị đừng lo - ông Grant la lên. Anh ấy sẽ không tẩu thoát đâu. 1 phút nữa, anh ấy sẽ trở lại. à, cậu Jones ơi, dao của cậu đây.

- Cám ơn, Hannibal trả lời và lấy lại con dao tám lưỡi mà cậu rất quý.

60 giây vừa mới trôi qua thì cửa lại mở ra lần nữa. 1 người đàn ông bước vào, nhưng không phải là Kẻ Thì Thầm. Ông ta thấp hơn, trông trẻ hơn, và có bộ tóc nâu chải cẩn thận.

- Xin chào - ông nói với 1 nụ cười thân thiện. Tôi là Stephen Terrill. Các cậu muốn nói chuyện gì với tôi phải không?

Tất cả mở căng mắt ra và không nói nên lời. Kể cả Hannibal.

Cuối cùng ông Grant phát biểu:

- Ông ta nói sự thật. Ông ta đúng là Stephen Terrill.

Hannibal, vẻ bực tức , la lên:

- Và ông cũng chính là Jonathan Rex, Kẻ Thì Thầm, đúng không, hả ông Terrill?

- Ông ấy là Kẻ Thì Thầm sao? - Peter ngạc nhiên. Nhưng ông ấy thấp hơn, ông ấy có tóc và...

Bằng 1 động tác nhanh nhẹn, ông tháo bộ tóc giả ra để lộ 1 cái đầu cạo trọc hoàn toàn. Ðồng thời, ông đứng thẳng người dậy, nheo mắt lại, trề miệng ra nói với 1 giọng hung dữ:

- Ðừng nhúc nhích 1 ly, nếu các cậu muốn sống!

Giọng nói nghe thật đến nỗi mọi người giật mình. Kẻ Thì Thầm và diễn viên mà người ta tưởng đã chết từ lâu chỉ là 1. Ðó là tất cả những gì mà Peter và Bob hiểu ra trong chuyện này.

Ông Terrill rút ra khỏi túi áo 1 vật? kỳ lạ bằng nhựa; đó là cái sẹo giả của ông.

- Dán cái này vào cổ, bỏ tóc giả ra, mang giày đế cao, và thế là xong, ông giải thích. Stephen Terrill biến mất. Tôi chỉ cần biến đổi giọng nói bằng cách thì thầm để trở thành Jonathan Rex.

Ông đeo tóc giả vào và trở thành chính mình.

Mọi người bắt đầu đặt câu hỏi. Ông Terrill đưa tay lên để xin im lặng.

- Ta hãy ngồi xuống - ông nói và tôi sẽ giải thích. Quý vị có thấy tấm hình này không?

Ông chỉ? vào tấm hình đóng khung chụp Stephen Terrill đang bắt tay Kẻ Thì Thầm.

- Tất nhiên đó là hình giả, ông nói rõ. Tôi đã làm tấm hình này để tuyên truyền rằng Terrill và Rex là 2 người hoàn toàn khác nhau. Quý vị biết không, cách đây rất lâu, khi tôi đã trở thành ngôi sao điện ảnh, tôi đã nhận ra rằng tật phát âm và tính rụt rè tự nhiên của tôi gây trở ngại rất nhiều cho tôi để xử lý công việc cho phù hợp với ý tôi. Tôi ghét phải nói chuyện với mọi người và tôi không thể bảo vệ quyền lợi của mình.

" Nên tôi đã bịa đặt ra cho mình 1 ông bầu, Kẻ Thì Thầm. Khi tôi thì thầm, người ta không nghe được rằng tôi bị nói đớt. Và tôi tự tạo cho mình 1 bộ mặt hung dữ đến nỗi tôi dễ dàng đòi được những gì tôi có quyền được hưởng. Không 1 ai trên thế giới, ngoại trừ Chales Grant, bạn tôi, biết sự thật. Phải nói rằng Chales là người hóa trang cho tôi và anh ấy giúp tôi giả làm Kẻ Thì Thầm.

Mọi việc xảy ra tốt đẹp đến ngày tôi quay bộ phim nói đầu tiên. Tiếng cười bùng nổ, tôi rất đau khổ và tôi lui về lâu đài. Khi tôi được báo rằng người ta đòi lấy lại lâu đài của tôi, tôi đâm ra tuyệt vọng.

Lúc xây lâu đài, công nhân đã phát hiện 1 phay tự nhiên giữa các khối đá, đi từ vực hẻm này sang vực hẻm kia. Tôi chính thức cho bịt kín các loại đường hầm ấy; tôi không chính thức cho lắp 1 cánh cửa bí mật. Rồi dưới tên Jonathan Rex, tôi mua miếng đất ờ đầu bên kia đường hầm và xây nhà. Như thế tôi có thể ra vào lâu đài mà không ai hay biết.

Lúc ấy tôi tuyệt vọng và thường hay đi dạo 1 mình bằng xe ô tô, trên sườn treo nhìn xuống biển. Chính ở đó tôi nảy ra ý nghĩ về vụ tai nạn giả mạo.

- Và ông đã đẩy xe từ trên cao vách đá xuống? - Hannibal hỏi.

- Ðúng, Terrill nói. Tôi bắt đầu viết 1 bức thư mà tôi đã để lại 1 nơi mà tôi tin chắc là sẽ có người tìm thấy. Rồi, vào 1 đêm giông bão, tôi giả bộ vụ tai nạn. Tất nhiên, là tôi không còn trong xe lúc nó rơi xuống. Ngày hôm đó, trong mắt thế gian và trong mắt của chính tôi, Stephen Terrill đã chết rồi. Tôi muốn ông ấy chết và được chôn luôn. Tôi cũng muốn giữ lâu đài của mình. Tôi không thể nào chịu nỗi ý nghĩ là 1 người khác ngự trị trong lâu đài thay tôi.

Mặc dù, bây giờ, lâu đài trống không, tôi vẫn có thể vào tùy thích bằng đường hầm tự nhiên. Nên tôi có mặt lúc cảnh sát khám soát và tôi đảm bảo với các cậu là các thanh tra đã cút đi rất nhanh! Quý vị biết không, khi tôi xây lâu đài, tôi đã cho lắp đặt nhiều hệ thống để gây cảm xúc mạnh cho bạn bè. Sau này những thiết bị đó đã rất có ích cho tôi để gây cảm giác cho công chúng rằng lâu đài có ma.

Khi ngân hàng gởi công nhân đến lấy bàn ghế của tôi, 1 lần nữa tôi lại can thiệp 1 cách siêu tự nhiên, còn cẩn thận hơn lần đầu nữa. Chẳng bao lâu, gần như không cần phải làm gì cả để làm cho những người vào lâu đài khiếp sợ: chính trí tưởng tượng của họ làm công việc ấy. Tuy nhiên, tôi vẫn chăm lo sao cho nơi ấy có tiếng là hung dữ, và để làm cho đường đến đó gian nan hơn, tôi đã gây vài vụ đá sụt lở chắn kín con đường lại.

Mưu mẹo của tôi thành công. Không ai muốn mua lâu đài. Trong thời gian đó, tôi để dành tiền để tự mình mua lại lâu đài. Việc chăn nuôi két đã mang lại đủ số tiền để tôi có thể trả tiền lâu đài mà không vay tín dụng... Rồi đúng lúc đó, các cậu ạ, các cậu đã đến xen vào chuyện của tôi.

Diễn viên thở dài.

- Các cậu đã kiên trì hơn bất kỳ 1 ai - ông nói thêm.

- Thưa ông Terrill - Hannibal hỏi sau khi đã hết sức chăm chú lắng nghe, có phải chú đã giả giọng ma để điện thoại đến chúng cháu vào buổi tối đầu tiên khi chúng cháu đến gặp chú không ạ?

- Tôi hy vọng như thế sẽ làm cho các cậu từ bỏ cuộc điều tra, Stephen nghiêng đầu trả lời.

- Nhưng làm thế nào chú biết trước rằng chúng cháu sẽ đến tối hôm đó? Và làm thế nào chú biết chúng cháu là ai?

 
Ðề: Truyện ma có thật, anh em đóng góp thêm nhé (nhiều tác giả)

19. Ông Hitchcock thực hiện một vụ giao kèo

Diễn viên mỉm cười.

- Anh bạn Chales của tôi làm lính canh cho tôi - ông giải thích, và người đàn ông nhỏ xác nhận câu trả lời bằng dấu hiệu gật đầu.

- ở cửa vào vực hẻm Ðen, có ngôi nhà gổ nhỏ gần như không thể nhìn thấy được; đó là nhà của anh Charles. Nhà có trang bị 1 tế bào quang điện, giống như những cái cầu thang làm cho cầu thang cuốn chạy trong tàu điện ngầm. Khi 1 người hoặc 1 xe vào vực hẻm, Charles biết được và điện? thoại báo cho tôi. Khi đó tôi nhanh chóng qua đường hầm và... tôi tiếp khách.

- Charles đã nhìn thấy chiếc Rolls của các cậu chạy trở lên vực hẻm và mô tả cho tôi. Tôi đã? nhận ra xe, vì tôi có đọc bài mô tả xe trong báo, bài báo cũng cho biết tên của người may mắn được trúng thưởng.

- Tối hôm đó, các cậu đã hơi hấp tấp rời khỏi lâu đài. Xin các cậu đừng có vì thế mà xấu hổ: những người khác còn rời nhanh hơn nữa. Tôi đã về nhà và tìm tên cậu trong danh bạ điện thoại. Tôi không thấy, nên tôi gọi đài thông tin, họ đã cung cấp số diện thoại của cậu cho tôi.

- ồ! - Hannibal chỉ kêu lên.

Còn Peter thì gãi đầu. Như có 1 ngày thám tử trưởng nhận xét, tất cả những bí mật đều đơn giản, một khi ta biết chúng.

- Thế là Skinny Norris và bạn hắn, tức là 2 bạn đến trước chúng cháu ngày thứ nhì, đã chạy nhanh trở ra, bởi vì chú đã chuẩn bị tiếp đón theo kiểu chú phải không ạ? Hannibal hỏi.

- Ðúng, ông Terrill trả lời. Ðiều khiến chúng tôi, anh Charles và tôi, bất ngờ là đến lượt 2 cậu đến, trong khi 2 cậu kia vừa mới đi khỏi.

Ông Grant có vẻ lúng túng.

- ở đây, có 1 điểm tôi muốn giải thích, các cậu ạ - ông nói. Khi các cậu đi ngang trước nhà tôi, tôi không còn thời gian báo cho Stephen, bởi vì anh ấy đang ở trong lâu đài chờ Skinny và bạn cậu ấy. Khi ấy, muốn xem các cậu định làm gì, tôi đã trở lên hẻm qua 1 con đường mòn ở nữa dốc, tôi chứng kiến Skinny chạy trốn và tôi thấy các cháu chạy theo cậu ấy. Ðúng lúc đó, hoàn toàn do sơ ý, tôi đã đẩy 1 viên đá, đá lăn xuống. Các cháu đã ngước mắt lên và phát hiện thấy tôi.

- Vậy chú chính là người chúng cháu định bắt và chính chú đã tặng cho chúng cháu vụ sụt lở đá ấy! Cám ơn chú nhiều! Peter la lên

- Tôi thành thật rất hối hận - ông Grant nói, nhưng đó cũng là bất trắc. ở đó có 1 đống đá chuẩn bị sẳn trong trường hợp có người muốn mua lâu đài dến: chúng tôi sẽ cho người mua chứng kiến 1 vụ đá sụt lở để làm cho người ấy nản lòng. Tôi đã thử núp sau đống đá ấy và do sơ ý tôi đã làm cho đá rớt ra. Ðến lượt chúng, những khối đá ấy đã kéo theo những khối khác. Tôi hết sức lo lắng cho các cháu và tôi đang tự hỏi làm cách nào có thể cứu được các cháu thì tôi thấy các cháu bước ra an toàn vô sự.

Peter không thấy còn câu hỏi nào để hỏi nữa. Mưu mẹo của 2 người đàn ông hết sức rõ ràng. Nhưng Hannibal không phải loại người dễ thoả mãn.

- Cháu hiểu ra nét tổng quát của kế hoạch các chú - Hannibal chấp nhận, nhưng? vẫn còn vài điểm tối tăm.

- Cậu muốn hỏigì thì cứ hỏi- Terrill nói. Cậu đã dành được quyền được biết.

- Ngày chúng cháu đến gặp chú ở đây, chú có sẳn bình nước chanh, y như chú đang chờ chúng cháu đến. Mà chú lại nói là đang cắt bụi cây, điều đó không đúng.

- Khi các cậu từ khe nứt trở ra, các cậu không để ý rằng anh bạn Chales của tôi theo dõi các cậu. Anh ấy đã nghe các cậu nói địa chỉ của tôi cho chú tài xế. Ngay sau khi các cháu đi, anh ấy đã gọi điện cho tôi.

Nên tôi chuẩn bị để đón tiếp các cháu. Từ cửa sổ nhà tôi, có thể nhìn thấy con đường và chiếc Rolls vàng rất dễ nhận ra của các cháu. Ngay khi thấy xe, tôi đã chuẩn bị ít nước chanh và tôi đã lẻn vào các bụi cây để quan sát các cháu đến. Cây gươm ngắn là để viện cớ với các cậu về việc tôi đang làm.

Phải nói thêm là lúc ấy tôi vẫn chưa quyết định sẽ tiếp đón các cậu như thế nào: tốt hay xấu. Cuối cùng tôi chọn thái độ thân thiện cho phép tôi kể các cậu nghe những chuyện rùng rợn nhất về lâu đài. Nếu trí nhớ các cậu tốt, các cậu sẽ nhận thấy rằng tôi hầu như không hề nói láo các cậu, ngoại trừ lúc tôi nói Stephen Terrill đã chết. Theo 1 nghĩa nào đó, thì ông ấy cũng chết thật rồi.

- Ðặt biết là tôi không nói láo khi tôi khẳng định chưa bao giờ bước qua cổng lâu đài từ lúc chính tôi biến mất: đó là sự thật, bởi vì tôi qua bằng đường hầm, như các cậu biết, lối vào của đường hầm nằm trong lồng chim nhà tôi. Ngày hôm nay, tôi xúc động đến nỗi, lần đầu tiên tôi quên đóng cửa, nên mấy con két đi dạo vào trong đường hầm.

Hannibal véo môi dưới:

- Thưa chú Terrill, còn cái mụ Bôhem đến gặp thím cháu, chính là ông Grant hóa trang, phải không ạ?

- Ðúng, cậu ạ. Khi tôi hiểu rằng các cậu là thám tử nghiệp dư, tôi đã nghĩ rằng có thể các cháu sẽ kiên trì. Tôi hy vọng 1 lời cảnh cáo thứ nhì sẽ hiệu quả hơn.

- Thật ra nó chỉ làm tăng thêm sự tò mò của cháu - Hannibal trả lời. Chưa bao giờ có ai bị cảnh cáo: chúng cháu là người duy nhất. Ngoài ra, thường ma không chịu khó cảnh cáo người. Cháu suy ra rằng 1 người còn sống muốn làm chúng cháu sợ.

- Rồi, khi xem xét những tấm hình do Bob chụp, cháu nhận thấy rằng bộ áo giáp trong phòng Tiếng Vang không bị rỉ lắm và trong thư viện không có nhiều bụi lắm. Như vậy là có ai đó chăm sóc cho bộ đồ gỗ.

Mà, lâu đài có giá trị nhiều nhất đối với Stephen Terrill. Thưa chú, cháu nghĩ rằng chú còn sống. Cháu phải thú nhận là chú đã làm cho cháu bị mất hướng với cái ý nghĩ đưa ra 1 băng buôn lậu quốc tế. Nếu cháu không lầm, thì chính chú đã đóng vai 1 tên ả Rập, thái tử phương Ðông và người phụ nữ Anh Quốc, còn ông Grant đóng vai tên ả Rập kia và mụ Bôhem.

- Ðúng, Terrill nói với vẻ mặt rõ ràng là rất thích thú. Tôi có 1 bộ sưu tập tóc giả và y phục rất đa dạng. Vì những phương tiện siêu tự nhiên không làm cho các cậu sợ, tôi định thử phương tiện tự nhiên. Có thể, vì sợ bị 1 băng nhóm lớn trả thù, các cháu sẽ từ bỏ cuộc tìm kiếm? Ðấy, có lẽ tôi đã khai báo tất cả cho các cậu nghe rồi đ1. Có còn chuyện gì các cậu muốn biết không?

- Hàng tá chuyện! Peter nhớ lại tất cả và la lên. Trước hết là con mắt nhìn cháu buổi tối đầu tiên?

- Ðó là con mắt của tôi, Stephen Terrill nói. Có 1 lối đi bí mật sau bức tường và trên bức tranh có đục 1 cái lỗ.

- Nhưng tụi cháu, Bob và cháu, đã xem xét bức tranh, không có lỗ nào cả!

- Bởi vì tôi đã thay thế bức tranh có lỗ bằng 1 bức khác, giống y nhưng nguyên vẹn, phòng trường hợp các cháu muốn xem bức tranh gần hơn.

- Dạ được. Còn con Ma Xanh? Cón cái đàn orgue cũ kỹ và tiếng nhạc quỷ quái của nó? còn sương mù khiếp sợ? còn bóng ma trong tấm gương? còn luồng khí lạnh ngắt trong pgòng Tiếng Vang?

- Trả lời cho cậu nghe sẽ làm cho tôi rất phiền, - diễn viên nói khẽ. Tôi cảm giác như 1 nhà ảo thuật buộc phải giải thích những trò ảo thuật của mình. Như thế sẽ làm cho tính chất thần tiên của sự việc biến mất. Nhưng nếu các cậu nhất định muốn biết...

- Cháu nghĩ là cháu đã xác định 1 số phương pháp của chú, thưa chú, - Hannibal can thiệp. Luồng khí lạnh có được bằng cách đặt 1 khối nước đá đang tan trước cái quạt máy sau 1 cái lỗ trong tường. Tiếng nhạc ma quái phát ra từ cái dĩa hát cho quay lui và truyền lại qua trung gian bộ khuếch âm. Con Ma Xanh là 1 quả bóng nhẹ hơn không khí và sơn 1 lớp sơn phát lân quang. Sương mù khiếp sợ được làm ra bằng hóa họcvà chui vào lối đi qua 1 hệ thống quạt gió nào đó.

- Cậu nói đúng, cậu ạ, Stephen Terrill đáp. Vì cậu biết rằng những hiện tượng này không phải là siêu tự nhiên, nên cậu không khó khăn gì trong việc hiểu ra nguyên nhân của chúng.

- Dạ phải, thưa chú. Còn bóng ma trong gương, chắc là hình chiếu của cái ảo đăng. Tuy nhiên còn có 1 điểm cháu vẫn chưa hiểu ra: làm thế nào chú gây được cảm giác khiếp sợ tăng dần đặt biệt ấy?

- Cậu đừng ép tôi phải nói ra tất cả! Ông diễn viên van xin. Hãy để cho tôi giữ lại 1 vài bí quyết. Các cậu đã làm tiêu tan những kế hoạch của tôi rồi. Khoan đã, tôi muốn cho các cậu xem cái này.

Ông đứng dậy và mở cánh cửa mà lúc nảy ông đã đi ra và trở vào. Phòng bên cạnh là 1 kho quần áo. Có đủ loại y phục treo trên tường; những bộ tóc giả đặt trên những cái giá đặt biệt và, trong 1 góc, có 1 chồng to tướng những cái hộp tròn bằng thiếc, giống như những hộp để cất phim điện ảnh.

- ở đây, trong căn phòng này, - diễn viên nói, quý vị sẽ thấy được Stephen Terrill thật. Những bộ y phục này. Những bộ tóc giả này. Những cuốn phim này. Chúng là cái tôi thật của tôi. Stephen Terrill chỉ là 1 công cụ dùng để biến đổi những bộ y phục và tóc giả này thành những nhân vật làm cho toàn thế giới khiếp sợ 1 cách thích thú.

 
Ðề: Truyện ma có thật, anh em đóng góp thêm nhé (nhiều tác giả)

20. At the end

Trong suốt nhiều năm liền, Lâu Ðài kinh Hoàng đã là thành công cuối cùng của tôi. ở đó, tôi làm cho người ta sợ và người ta không chê cười tôi nữa. Ðồng thời, tôi luyện giọng nói. Như quý vị có thể thấy, tôi đã chữa khỏi tật nói đớt và tôi đã nói được những âm trầm. Tôi có thể giả giọng 1 người ả Rập, 1 người Hoa, 1 con ma, 1 phụ nữ và hàng chục giọng khác. Tôi luôn mơ ước được xuất hiện trên màn ảnh trở lại.

Bây giờ thì đã quá trễ rồi. Không còn ai quan tâm đến phim kinh dị nữa. Tôi không thể làm con ma trong lâu đài của chính mình nữa. Tôi sẽ bị mất cả lâu đài luôn. Tôi sẽ chỉ còn là Kẻ Thì Thầm... Tôi không biếtt tôi sẽ làm gì đây.

Ông dừng lại để lấy lại bình tĩnh. Khi đó, Hannibal, không ngừng véo môi, can thiệp vào:

- Thưa ông Terrill, vậy là những cái hộp này chứa tất cả những bộ phim kinh dị tuyệt vời mà ông quay cách đây lâu lắm, mà từ đó, không có ai được xem lại phải không ạ?

Diền viên ra hiệu là đúng.

- Cậu nghĩ đến chuyện gì thế? - ông hỏi.

- Cháu nghĩ, Hannibal chậm chạp nói, rằng chú có thể lấy lại chủ quyền lâu đài và tiếp tục làm cho người ta khiếp sợ. ý cháu thế này...Cũng như thường lệ, Hannibal Jones vừa mới nảy ra 1 ý nghĩ hết sức xuất sắc!

Ngày hôm sau, ngồi trong chiếc Rolls chở đến Hollywood, Hannibal có vẻ không vui. Peter hiểu tại sao, thám tử trưởng giận vì đã không đoán ra được rằng Stephen Terrill và Kẻ Thì Thầm là cùng 1 người duy nhất.

2 cậu đến gặp ông Hitchcock, Bob không đi cùng vì rất tiếc là cậu phải làm việc ở thư viện cả buổi sáng.

- NGay khi chú Warrington báo cho chúng ta biết rằng đường hầm có đầy két, mình đã đoán ra đó là những con két của ông Rex - Hannibal ngừng suy gẫm nói, và mình cũng đoán ra ngay rằng đường hầm phải dẫn đến lồng chim của ông ấy và ông ấy đã quên đóng cửa lại, nhưng mình không suy ra được rằng ông Rex là ông Terrill.

- ồ! cậu đã suy ra được tất cả phần còn lại - Peter trả lời. Cả việc ông Terrill còn sống. Trong 1 lúc nào đó, cậu đã bị mất hướng: thì có sao đâu nào? Cậu phải tự hào về mình chứ.

Nhưng Hannibal lắc đầu.

Lần này, không có gì khó khăn trong việc qua cổng. Bảo vệ ra hiệu cho Warrington chạy qua và 1 lúc sau, 2 cậu được ông Hitchcock đích thân tiếp.

- Sao các cậu - ông Hitchcock lẩm bẫm sau khi mời ngồi, 2 cậu có chuyện gì muốn nói với tôi à?

- Dạ phải, thưa bác. Chúng cháu đã tìm được 1 ngôi nhà có ma - Hannibal trả lời.

- Thật sao! Nhà sản xuất phim danh tiếng thốt lên. Ông nhướng mày lên vẻ không tin. Có thể biết được là ma của người không?

- Ðiều phiền phức chính là ở chỗ đó, thưa bác. Ma là 1 người còn sống, chứ không phải là người đã chết.

- Thế à. Cậu hãy kể chuyện này cho tôi đi! - ông Hitchcock yêu cầu và ngã lưng vào ghế bành.

Ông chăm chú nghe 2 cậu tường thuật lại. Khi Hannibal nói xong, vĩ nhân nói khẽ:

- Tôi rất mừng được biết rằng Stephen Terrill còn sống. Ðó là 1 nghệ sĩ vĩ đại. Nhưng thú thật, tôi rất muốn biết ông ấy làm cách nào để cho khách đến có cảm giác khiếp sợ, mà cảm giác ấy lại mất ngay khi rời khỏi lâu đài.

- Ông ấy không chịu nói cho cháu, bác ạ, nhưng cháu nghĩ rằng cháu đã đoán ra được. Cháu có đọc 1 quyển sách về các đàn orgue để giúp chú của cháu lắp ráp 1 cây đàn mà chú ấy vừa mới mua, và cháu đã biết đựơc rằng những dao động hạ âm - tức là quá thấp để tai người nghe thấy - gây nên những tác động kỳ lạ vào hệ thần kinh của con người.

- Thưa bác, cháu nghĩ rằng cây đàn orgue của ông Terrill, mà chúng ta sai lầm cho rằng đã hư hỏng không dùng được nữa, có nhiều ống có thể phát ra những dao động như thế. Ta càng lại gần nguồn phát dao động, sự căng thẳng mà ta cảm giác lúc ban đầu càng gia tăng và cuối cùng biến thành nỗi hoảng hốt thật sự. Tất nhiên, những tác động ấy không hề có ở ngoài lâu đài: các cộng sự của cháu đã kiểm tra.

Peter tức giận nhìn bạn. Hoá ra đây chính là nguyên nhân tại sao Hannibal đã nhất quyết đòi Bob và chính Peter phải tham quan lâu đài vào ngày hôm đó...

- Cậu ơi - khi ấy ông Hitchcock la lên, nếu tôi hiểu đúng, thì trong toàn bộ câu chuyện này cậu đã xoay sở khá tốt. Nhưng bây giờ thân phận Stephen Terrill sẽ như thế nào đây? Có thể nói là cậu đâu có giúp gì ông ấy khi làm lộ bí mật của ông ấy.

Hannibal có vẻ hơi lúng túng.

- Ông Terrill có ý nghĩ nhỏ - Hannibal trả lời. Thậm chí đó còn là 1 ý nghĩ mà ông ấy rất say mê. Ông ấy đã kiếm được nhiều tiền bằng cách nuôi két và ông ấy có thể hủy bỏ quyền cầm cố trên lâu đài của ông ấy, để không còn mắc nợ ngân hàng đã cho ông vay tiền. Sau đó ông ấy sẽ xuất hiện lại với tên thật Stephen Terrill danh tiếng quay trở về với cuộc sống: Ðiều này sẽ làm báo chí nói nhiều.

- Tất nhiên - ông Hitchcock nói và nhìn Hannibal bằng cặp mắt lé. Rồi sau đó?

- Sau đó, ông ấy sẽ dọn trở lại vào lâu đài, ông ấy sẽ mở cửa lâu đài cho công chúng, tất nhiên là vào cửa phải trả tiền. Trong phòng chiếu, ông ấy sẽ cho chiếu những bộ phim kinh dị cũ và, ngoài ra, ông ấy sẽ để cho người ta đi dạo trong lâu đài, lâu đài sẽ được giữ nguyên vẹn hầu như giống y bây giờ. Khách du lịch sẽ rất thích được biết về sương mù khiếp sợ và biết đến mọi hệ thống khác mà ông Terrill đã lắp đặt nhằm gây cảm xúc mạnh vô hại cho người ta.

- Ngoài ra, ông Terrill có thể đích thân biểu diễn lại những vai khác nhau mà ông đã đóng trong phim. Cháu nghĩ sẽ rất thành công.

- Hừm! - Alfred Hitchcock nó và nhìn dò xét thám tử trưởng. Anh bạn trẻ ạ, tôi nghĩ đầu óc sáng tạo của cậu đã tham gia nhiều vào việc thiết kế cái kế hoạch mà cậu vừa mới trình bày. Nhưng không quan trọng. Ba cậu Thám Tử Trẻ đã thực hiện 1 cuộc điều tra khá vẻ vang, tuy các cậu không tìm ra được 1 ngôi nhà thật sự có ma chính cống. Phần tôi, tôi sẽ giữ lời hứa, tôi sẽ viết lời tựa cho truyện tường thuật lại cuộc phiêu lưu của các cậu khi nào thảo xong.

- Cám ơn bác, Hannibal nói. Ðó sẽ là quảng cáo rất tốt đối với Ba Thám Tử Trẻ.

- Nếu điều này có thể an ủi các cậu - ông Hitchcock nói tiếp, thì chưa ai đã thành công trong việc mà các cháu đã thất bại. Cả ngôi nhà ở Anh mà người ta nói với tôi là được lắm cũng không có ma chính cống trong đó. Tôi đành phải từ bỏ kế hoạch quay bộ phim trong 1 ngôi nhà có ma. Nói đến kế hoạch, các cậu hãy kể về kế hoạch của các cậu đi.

Peter rất muốn phát biểu và tuyên bố rằng, sau những phiêu lưu mà các cậu đã sống qua ở Lâu Ðài Kinh Hoàng, kế hoạch của các cậu là yên tĩnh tuyệt đối và chơi bóng chày, nhưng Hannibal trả lời trước:

- Thưa bác, chúng cháu là thám tử ạ. Chúng cháu sẽ đi tìm ngay 1 vụ khác.

Ông Hitchcock chăm chú nhìn cậu:

- Hy vọng cậu không có tham vọng bắt tôi phải viết lời giới thiệu cho câu chuyện về cuộc điều tra thứ nhì chứ?

- Dạ không, thưa bác - Hannibal nghiêm trang đáp. ý định cháu không thế. Tuy nhiên, nếu bác đồng ý viết thì...

- Ðừng nói vội thế, anh bạn ạ! - ông Hitchcock gầm lên. Tôi chưa bao giờ nói điều gì như thế cả.

- Không có, thưa bác, Hannibal khiêm nhường công nhận.

Nhà sản xuất phim im lặng nhìn cậu 1 hồi, rồi nói tiếp:

- Tôi nảy ra ý giới thiệu cậu 1 vụ như sau. 1 bạn thân của tôi, là cựu diễn viên kịch Shakespeare, đã bị mất con két mà ông rất quý. Cảnh sát không tìm thấy gì cả. Phần các cậu, tôi phải công nhận rằng các cậu đã chứng tỏ 1 sự tài tình nào đó. Có thể các cậu sẽ giúp ông ấy tìm lại con két? Trừ phi (nói đến đây, ông Hitchcock nhíu mày lại) việc tìm kiếm 1 con két có vẻ là 1 nhiệm vụ quá tầm thường đối với Ba Thám Tử Trẻ.

- ồ, dạ không đâu ạ, thưa bác Hitchcock! Peter la lên, vì cậu nghĩ rằng nếu phải làm việc, thà tìm kiếm 1 con két bị lạc hơn là tìm kiếm 1 Lâu Ðài Kinh Hoàng mới. Khẩu hiệu của chúng cháu là "Ðiều tra đủ loại".

- Chúng cháu sẽ rất vui được giúp bạn của bác, thưa bác, Hannibal trả lời đơn giản.

Ðạo diễn vĩ đại mỉm cười. Nụ cười này có thể ẩn giấu rất nhiều điều...

- Nếu vậy, - ông nói, thì tôi sẽ viết lời tựa cho vụ thứ nhì của các cậu.

- Cám ơn bác - 2 cậu đồng thanh trả lời.

- Tuy nhiên có 1 điều kiện - ông Hitchcock cương quyết nói rõ. Cuộc điều tra phải đủ thú vị để đáng được kể lại. Rõ ràng là việc đơn giản tìm kiếm 1 con két. Thậm chí 1 con két cà lăm, không đáng để dành 1 quyển sách tường thuật lại. Nếu vụ đó hoá ra sơ? đẳng quá, tôi không muốn nghe gì về nó cũng như về 3 Thám Tử Trẻ.

- Thưa bác, cháu xin lỗi. Bác nói là con két cà lăm à? - Hannibal hỏi, mắt sáng rỡ.

- Cậu hiểu rất đúng - ông Hitchcock trả lời. Tôi hy vọng cậu cũng đã hiểu phần còn lại câu nói của tôi.

- Dạ hiểu, thưa bác. Cháu chưa bao giờ nghe nói đến 1 con két cà lăm! Ði thôi, Peter ơi: chúng ta đã có 1 vụ thứ nhì rồi.

- Khoan nào! - ông Hitchcock nói. Sau khi dừng 1 hồi:

- Nếu các cậu biết được tên và địa chỉ của anh bạn tôi, thì sẽ giúp 1 ít cho các cậu.

Ông viết nguệch ngoạc 1 cái gì đó vào tờ giấy:

- Ðây.

Hannibal cất tờ giấy vào túi.

- Thưa bác, cháu cám ơn bác rất nhiều ạ. Chúng cháu sẽ báo cáo về chuyến công tác thứ 2 này.

2 cậu chào từ giã và bước ra khỏi văn phòng.

Vĩ nhân nhìn theo 2 cậu, mỉm cười, vẻ mặt bí ẩn....
 
Ðề: Truyện ma có thật, anh em đóng góp thêm nhé (nhiều tác giả)

Một lần, tụi tui đóng quân trong phum, trung đội tìm được căn nhà bỏ không! Cả bọn mừng lắm....Tất cả 7 thằng dọn dẹp tý đỉnh cho sạch sẽ rồi nghỉ. Tối đến, cũng cắt gác đàng hoàng (nếu không, có ngày ra bãi sớm). Nữa đêm, thằng gác bổng kéo một loạt đạn! Tụi tui bật dậy chạy ra....thấy nó đang ú ớ chỉ về phía trước! Cả đám rợn tóc gáy.....một bóng trắng cứ dật dờ, dật dờ bay...không biết là cái gì! Lúc đó cũng có nghĩ là ma...nhưng tui không dám nói!
Đêm thứ hai, phiên gác của tui là 12 giờ....đang ngồi căng mắt ra nhìn về phía trước thì bổng một cái gì đó xẹt ngay trước mặt...rồi la đà ngang cây thốt nốt! Cha mẹ ơi...ma rồi! Tui chết điếng luôn một chặp mà nói không thành tiếng...Cũng vẫn bóng trắng chập chờn như hôm qua, nhưng hôm nay lại có thêm hai cái nữa, hơi nhỏ hơn....
 
Ðề: Truyện ma có thật, anh em đóng góp thêm nhé (nhiều tác giả)

Sợ quá đi mất nhưng em rất thích chuyện ma. Cảm ơn mọi người nhé!
 
Ðề: Truyện ma có thật, anh em đóng góp thêm nhé (nhiều tác giả)

Mấy ngày liền như vậy, cả trung đội không dám ngủ trong ngôi nhà đó nữa. Thằng nào cũng sợ, tuy chỉ là những bóng hình mờ ảo khói sương....Chuyện này cũng đến tai dân làng, mọi người mới kể rằng, tại ngôi nhà đó, ngay dưới nền đất phía dưới sàn là một ngôi mộ chôn chung 6 người trong gia đình. Năm 1977 P. đã giết họ bằng cách đập đầu rồi lấp họ ngay tại đây, trong số 6 người đó có hai đứa trẻ nít. Vì sao họ bị giết...bởi vì họ là giáo viên và cô đỡ (chồng là nhà giáo dạy trường làng, còn vợ là cô đỡ đẻ...). Dân làng còn nói, vào những đêm trăng khoảng tháng 5, thì còn nghe tiếng khóc của trẻ thơ nữa kia. Chúng tôi ngồi nghe mà cảm giác sống lưng cứ lành lạnh, rờn rợn....Hai ngày sau, tiểu đoàn lệnh cho B tụi tui khai quật ngôi mộ đó....có những người dân trong phum chứng kiến và chỉ dẫn!
Đúng như lời kể của người dân, lần lượt những bộ hài cốt hiện ra trong nền đất đen ẩm....Đám lính tụi tui nổi tiếng ngang tàng nhưng khi thấy vậy đều không khỏi bàng hoàng....Không ai bảo, tất cả chúng tôi đều nâng nhẹ từng mẫu xương, từng hộp sọ lên mặt đất rồi lấy rượu tắm rửa sạch sẽ toàn bộ số hài cốt đấy. Dân làng phụ giúp tụi tui bỏ vào hòm từng bộ một. Chỉ áng chừng thôi vì chôn chung nên hài cốt đưa lên lẫn lộn hết....Sau khi đưa tất cả số hài cốt đó ra nơi chôn mới....tụi tui cũng làm lễ cúng kiếng như phong tục Việt nam, cũng lạp bàn thờ đàng hoàng. Nhưng lại không có nhang, thế mới khổ, thôi thì lòng thành là chính, mong các linh hồn phiêu linh nơi cực lạc, phù hộ cho dân làng và bộ đội VN được mạnh giỏi, đánh thắng, đừng phá người sống mà tội nghiệp....Kể từ đó, các bóng trắng hồi kia không còn nữa...và tụi tui cũng không dám ngủ tại ngôi nhà đó! Dù sao thì vẫn sợ....
Còn mấy chuyện nữa, rảnh rỗi rồi tui kể cho các bạn nghe....Trước kia thì tui chưa bao giờ gặp ma hay oan hồn, nhưng trong khi chiến đấu trên đất K. có nhiều chuyện mãi đến bây giờ tui vẫn không tài nào hiểu nổi! Còn chổ tui đang làm việc hiện nay cũng có một chuyện hơi thần bí lắm...nhưng thôi, từ từ đã!
 
Sửa lần cuối:
Ðề: Truyện ma có thật, anh em đóng góp thêm nhé (nhiều tác giả)

Vụ án con ma trong gương
1. Trộm

- Chú Titus như được lên thiên đàng - Hannibal Jones mỉm cười tuyên bố với bạn - Hôm nay, chú ấy thu gom được 1 đống hàng cho kho đồ linh tinh.

Hannibal dùng tay lau mồ hôi trán. Ngay sau bữa ăn trưa, Ba Thám Tử đã rời khỏi Rocky cùng chú Titus. Một ngôi nhà cũ nằm trên đồi cao Hollywood sắp bị đập phá: chú Titus muốn thu gom những gì còn dùng được. Bây giờ, đã 4 giờ chiều, mặt trời tháng 8 chiếu mạnh. Phía dưới, thành phố lấp lánh dưới ánh nắng.

- Babal ơi, Peter đột ngột hỏi - chú Titus làm gì mà lâu vậy?

- Chắc chú đi 1 vòng cuối cùng trong nhà để kiểm tra xem còn xót món nào không.

- ừ, chắc là vậy.

Một lát sau, chú Titus chui ra khỏi ngôi nhà kiểu cổ, nằm trên đỉnh Crestview Drive. Nhà buôn bán đồ cổ đang đi cùng nhà thầu phụ trách đập phá ngôi nhà, để xây vào địa điểm này 1 tòa nhà cao ốc. Hai người đàn ông đứng trên ngưỡng của nói chuyện 1 hồi, rồi bắt tay nhau. Chú Titus bước đến xe tải nhẹ.

- Xong rồi! - chú thông báo. - Trong đó không còn vật gì có giá trị nữa. Cũng tiếc thật. Ðập đi 1 ngôi nhà như thế này! Thời nay không còn xây được nhà kiên cố như vậy. Chắc là hồi xưa nhà này đẹp lắm! Nhưng thôi...

Chú thở dài, vuốt bộ ria mép dày đen, rồi leo lên ngôi sau tay lái.

- Lên đường! - chú kêu.

Xe nổ máy, chạy về hướng Hollywood. Hannibal chăm chú nhìn trái, nhìn phải. Xe đang chạy trên 1 đại lộ có những ngôi nhà to lớn và cổ xưa... Một số trông giống như nhà đồng quê Anh, 1 số khác giống như lâu đài kiểu Pháp, nhưng phần lớn xây theo kiểu Tây Ban Nha, với tường trang trí chất giả đá hoa và mái nhà bằng ngói đỏ.

- Nhìn kìa! - Bob đột ngột kêu và đập vai Hannibal.

Bob dùng tay chỉ 1 ngôi nhà Tây Ban Nha, rộng lớn, phía trước có 1 chiếc xe màu đen đậu, khá nổi bật. Thật vậy, đó là 1 chiệc xe Rolls Royce màu đen mạ vàng.

- Chiếc Rolls của ta! - Hannibal thốt lên. Chắc chắn chú Warrington đâu đây thôi!

Ðến ngang xe Rolls, chú Titus chạy chậm lại. Ðúng lúc đó, cửa ngôi nhà lớn đột ngột mở toang ra. Một người đàn ông nhỏ gầy, mặc đồ màu tối, ào ra và bỏ chạy thật nhanh.

- Stop! Dừng lại! Ðồ cướp!

Chính Warrington cũng ra khỏi xe, lao theo người đang bỏ trốn. Người này đang chạy về hướng xe tải nhẹ.

Chú Titus thắng gắt lại. Peter đã nhảy xuống đất và chạy ra, hy vọng cản đường người đàn ông nhỏ.

- Trộm! - Warrington kêu.

Peter nhảy vào, cố ôm bắt người đàn ông. Nhưng kẻ này khéo léo và bình tĩnh. Hắn ném nắm đấm thẳng về phía trước. Peter cảm giác như con mắt phải mình đang nổ tung. Một nỗi đau nhói làm tê liệt cậu. Rồi đôi chân mềm nhũn và Peter nằm dài xuống đất.

Trong tình trạng nữa tỉnh, Peter nghe tiếng chạy, rồi tiếng cửa xe đóng sập lại. Ngay sau đó là tiếng máy xe nổ.

- Trời ơi! - Warrington kêu lên ngay. - Hắn đi mất!

Peter mở mắt ra, lắc đầu để cố tỉnh lại và nhìn thấy Warrington đang cúi xuống nhìn mình.

- Cậu Peter ơi! - Chú lo lắng hỏi. - Cậu Peter ơi! Cậu có bị thương không?

- Không sao... Cháu cần chút thời gian để tỉnh lại thôi.

Hannibal và Bob chạy đến.

- Hắn chuồn mất rồi! - Bob thông báo - Hắn có xe đậu cuối đường.

Warrington đứng dậy. Khuôn mặt dài của chú tài đang đỏ lên vì tức giận.

- Không hiểu tại sao tôi không bắt được tên này! - Chú tài kêu - Mặtc dù chân ngắn, hắn vẫn chạ nhanh hơn tôi!

Một ý nghĩ như trấn an chú tài và chú mỉm cười nhẹ:

- Dù sao, ta đã làm hắn khiếp vía!
 
Ðề: Truyện ma có thật, anh em đóng góp thêm nhé (nhiều tác giả)

2. Nhà gương

-Warrington! Hắn thoát được à? Tôi vừa mới gọi cảnh sát.

Hannibal mở mắt thật lớn. Peter xoa má, tự hỏi không hiểu mình có đang nằm mơ không. Còn Bob, thì há miệng trố mắt nhìn người vừa mới bước ra khỏi nhà và đang đi nhanh đến. Ðúng là 1 cảnh tượng kỳ lạ.

-Rất tiếc, thưa bà, - Warrington nói. - Tên khốn kiếp ấy đã trốn được.

Người mới đến dừng lại. Hannibal chợt nhận ra miệng mình đang há, vội ngậm lại. Phải có gì đặc biệt lắm mới làm thám tử trưởng ngạc nhiên. Nhưng bất cứ ai khác cũng sẽ ngạc nhiên khi đối mặt với người đàn bà này. Bà mặt bộ váy lụa lộng lẫy có khung phồng, mang giày sa-tanh, đội bộ tóc giả cao màu trắng. Y như nữ hầu tước ngày xưa.

Warrington quay sang bà:

-Thưa bà, - Warrington nói - Xin giới thiệu với bà đây là Ba Thám Tử Trẻ, bạn của tôi ... Bà đây - Warrington nói với bộ ba - là bà Darnley.

Bà Darnley nhìn 3 bạn, hơi ngạc nhiên:

-ồ! - bà kêu khẽ... - Ðúng rồi! Ba Thám Tử Trẻ! Warrington nói với tôi rất nhiều về các cậu... Xem nào ...

Bà nhìn thám tử trưởng:

-Cậu là Hannibal Jones, phải không?

-Dạ đúng, thưa bà.

Warrington giới thiệu tên Bob và Peter:

-Cậu Peter đã cố gắng chặn đường tên vô lại - Bác tài giải thích và chỉ cậu lực sĩ trẻ còn ngồi dưới lề đường.

-Hy vọng hắn không làm cậu bị thương chứ?

-Dạ không. Cháu cảm thấy đỡ hơn rồi! - Peter tuyên bố và đứng dậy.

-Ðội ơn chúa! Những kẻ đột nhập vào nhà người khác rất nguy hiểm khi ta định bắt giữ chúng!

Chú Titus quyết định đến với cả bọn.

-Thưa bà Darnley - Hannibal nói - Cháu xin giới thiệu đây là ông Titus Jones, chú của cháu.

Người đàn bà kỳ lạ thân thiện mỉm cười.

-Rất vui được biết ông! - Bà nói - Tôi có nghe nói đến ông và đến cả đồ linh tinh nổi tiếng của ông. Thậm chí tôi định đến thăm ông để xem chỗ ông có những tấm gương nào hay không.

-Gương à? - Chú Titus hỏi lại.

-Phải. Ông biết không, tôi có thú sưu tầm gương. Ðó là nỗi đam mê của tôi. Mời mọi người theo tôi, để nhìn thấy tận mắt.

Bà quay lui, dẫn mọi người đi theo và bước về ngôi nhà.

-Bà ấy luôn ăn mặc như thế à? - Peter hỏi nhỏ chú Warrington.

-Bà ấy là 1 người khác thường - Warrington giải thích mà không trả lời thẳng câu hỏi. Tôi thường lái xe cho bà, vì bà không có xe riêng. Cậu phải chuẩn bị tinh thần thấy 1 ngôi nhà thú vị và phi thường không kém gì chủ nhân.

Thật vậy, ngôi nhà trông mê hồn. Theo Warrington, chú Titus và Ba Thám Tử Trẻ bước vào 1 tiền sảnh rộng lớn, mát lạnh và chìm trong bóng tối. Phía bên trái, 1 cầu thanh đồ sộ dẫn lên lầu.

Bên phải, 2 cửa cánh mở vào 1 gian phòng tối thui. Khách được mời sang phòng bên cạnh, trông giống như phòng khách đầy bóng hình di động. Tấm rèm dày ở cửa sổ chắn ánh nắng mặt trời. Một lúc sau, 3 cậu mới nhận ra những hình bóng di động chẳng qua là hình ảnh chính mình phản chiếu trong hàng chục, thậm chí có khi là hàng trăm cái gương. Trong phòng như có không phải 6 người mà 60 hay 600 người.

- Lạ quá phải không?

Rồi hình ảnh bà Darnley hiện lên bên trái Hannibal.

-Chóng mặt quá!- Peter thú nhận.

Bà cười khẽ.

- Nếu vậy, thì ngồi xuống đi! - Bà vừa mời vừa trèo lên 1 cái ghế gần lò sưởi để ngồi.

Khi mọi người đã ngồi, bà nói tiếp:

- Hầu hết mấy tấm gương của tôi đều rất cổ. Và tất cả, đều có lịch sử hết. Tôi đã sưu tập suốt cả cuộc đời. Tôi bắt đầu lúc còn rất nhỏ. Mọi người còn nhớ chuyện Alice ở xứ thần tiên không? Alice chui vào tấm gương và tìm thấy 1 thế giới lạ lùng. Lúc còn bé, tôi cứ nghĩ mình sẽ làm giống Alice được... dĩ nhiên là với điều kiện tìm ra đúng tấm gương thích hợp.

Ðúng lúc đó, 1 cậu bé bằng tuổi Peter, tóc hung và mặt đầy tàn nhang, bước vào phòng. Một cô bé, tóc màu hung sậm hơn, cao gần bằng, bước vào theo. Cô bé mỉm cười với Warrington đang đứng gần cửa sổ, rồi thấy chú Titus và Ba Thám Tử.

- Hai cháu ngoại tôi đây! - Bà Darnley giới thiệu - May và Jeff Parkinson! Hai con à, đầy là chú Titus Jones, chủ cửa hàng Thiên Ðường Ðồ Cổ danh tiếng,Hannibal cháu chú Titus, và 2 bạn của Hannibal: Bob và Peter.

Mắt Jeff sáng lên.

- Ba Thám Tử Trẻ! Jeff kêu.

- Ðúng lúc quá! - Cô em gái reo - Có thám tử đúng lúc có kẻ trộm lẻn vào nhà! Nhưng hắn lại không lấy gì.

- Không mất gì á? - Bà Darnley hỏi.

- Không. Tụi con chưa phát hiện mất gì.

Tiếng còi hụ ngắt lời May.

- Cảnh sát tới! - bà Darnley nói - May, con mời cảnh sát vào đây. Còn anh, Warrington, anh bước lại gần đây và chuẩn bị sẳn sàng kể lại cho cảh sát nghe.

- Vâng, thưa bà.

May quay vào cùng với cảnh sát. Một viên cảnh sát tròn mắt khi thấy bà Darnley mặc y phục thời đại khác. Làm ngơ trước sự ngạc nhiên của ông, bà nhanh chóng tường thuật lại chuyện xảy ra.

- Tôi đang ở trên lầu, - bà giải thích,- ngồi uống trà. John Chan, là quản lý kiêm quản gia, đang dọn trà cho tôi. Không ai trong chúng tôi nghe thấy tiếng động nhỏ nào, có lẽ tên trộm tưởng nhà không có người. Nhưng xui cho hắn là Warrington và 2 cháu ngoại tôi đi chợ về bắt gặp hắn trong thư phòng. Theo chúng tôi biết, hắn không lấy cắp gì. Tôi nghĩ hắn không kịp thời gian.

Rồi Warrington mình đã rượt theo kẻ lạ, nhưng hắn đã thoát được. Ðến lượt 3 thám tử mô tả tên trộm: 1 người đàn ông thấp nhỏ, mảnh khảnh, tóc đen, nhanh nhẹn, trung niên... và khá khỏe mạnh. Hannibal nói thêm về chiếc xe của tên trộm.

-Loại xe như thế, có mấy ngàn chiếc - Một viên cảnh sát nhận xét - Có ai ghi được bảng số xe không?

- Rất tiếc, nhưng bảng số phủ đầy bùn, không thể nào đọc được.

Viên cảnh sát viết vài chữ vào sổ tay, rồi thở dài.

- Trong khi bác Warrington đuổi theo tên trộm - May Parkinson nói - tụi cháu đã phát hiện ra cách tên trộm lẻn vào nhà.

- Phải - Jeff nói - Hắn bẻ khóa cửa sau nhà.

Viên cảnh sát lắc đầu.

- Lúc nào cũng vậy, cửa sau khóa không kỹ.

- Xin lỗi nhé! - Bà Darnley phản đối. - Cửa nhà tôi có khóa rất tốt. Tôi rất kỹ về chuyện này. Anh có thấy là trong nhà tôi cửa số nào cũng có song sắt chắn bảo vệ. Nhà chỉ có 2 cửa: cửa vào chính và cửa bếp ở phía sau. Hai cửa đều có 2 khóa.

- Tên trộm dùng thanh sắt bẻ cửa nhà bếp - Jeff nói rõ.

- Các anh thấy chưa! Jeff, con hãy đưa mấy chú xuống bếp xem tận mắt!

Hai viên cảnh sát bước theo cậu bé Parkinson, và quay về nhanh chóng. Một viên cảnh sát cầm trong tay thanh sắt mà tên trộm đã dùng để vào nhà.

- Hy vọng sẽ lấy được dấu vân tay trên cán dụng cụ - viên cảnh sát nói.

- Tên trộm đeo găng tay - Peter nói.

- Cậu có chắc không?

- Chắc, hắn đã đấm vào mặt cháu.

Rồi cảnh sát ra về, trước khi đi hứa là sẽ liên lạc với bà Darnley ngay khi biết được chi tiết gì về tên trộm. Warrington cũng về, mang xe trở lại hãng thuê.

- Không hy vọng gì - Bà Darnley thở dài nói. Có lẽ rồi chuyện sẽ lắng xuống thôi. Thôi, cũng không sao! Mọi người có muốn xem nhà không? Xưa kia nhà này của ảo thuật gia Drakestar. Nhà do chính ông cho xây.

- Nhà của ảo thuật gia Drakestar à? - Hannibal hỏi, vì cậu rất sành về giới kịch nghệ và biểu diễn - Vậu là ông từng sống ở ngôi nhà này? Hay quá! Cháu đọc rất nhiều bài báo viết về ngôi nhà này.

Bà Darnley gật đầu.

- Phải, báo chí đã viết nhiều về nhà này. Drakestar chết ở đây và người ta đồn nhà có ma. Nhưng chính tôi chưa bao giờ thấy có gì bất thường. Thôi nói chuyện đó đủ rồi! Mời mọi người đi xem nhà!

Bà băng qua phòng khách, mở cánh cửa tuốt phía đưới. Chú Titus, Ba Thám Tử Trẻ, cũng như Jeff và May Parkinson bước theo bà vào 1 phòng ăn rộng mênh mông. ở đó, màn cửa số được vén lên và ánh nắng tràn đầy gian phòng có tường trải thảm đỏ. Phía trê 1 cái tù buffet dài và thấp, có treo tấm gương trong khung mạ vàng hình cuộn. Trông rất cổ. Men tráng gương bị mất ở vài điểm.

- Ðây là 1 trong những vật quý nhất của tôi - Bà Darnley nói - Gương này xuất xứ từ cung điện sa hoàng, ở San Petersbourg, hay đúng hờn là Leningrad, bởi vì bây giờ tên thành phố là vậy. Có thể là chính nữ hoàng Ekaterina nước Nga đã từng soi vào tấm gương này. Vì vậy mà tôi rất thích nó.

Sau phòng ăn, lần lượt là gian dọn ăn, rồi đến nhà bếp. Tại đó, khách được giới thiệu với John Chan, người giúp việc của bà Darnley. Anh là 1 chàng trai klhoảng 25 tuổi, mảnh khảnh, tóc nâu. Rõ ràng tổ tiên anh ta là người á Châu. Nhưng anh nói tiếng Anh với giọng Boston. Anh báo cho bà chủ rằng anh đã cho gọi thợ mộc và thợ làm chìa khóa: cửa nhà bếp sẽ được sửa xong trước tối.

- Tốt lắm! - Bà Darnley hài lòng tán thành.

Rồi bà quay sang 1 cánh cửa khác nói:

- Ðây là phòng của John. Anh ấy không chịu cho treo tấm gương nào!

Anh quản gia mỉm cười:

- Trong những gian phòng khác, tôi tự thấy mình đi đi lại lại - Anh tuyên bố. - Như thế là đủ lắm rồi.

- Bây giờ tôi sẽ cho mọi người xem những kho báu khác của tôi - Bà chủ nhà nói.

Khách theo gót bà bước qua tiền sảnh.

- Thời Drakestar, tiIn sảnh này dùng làm phòng dạ hội - Bà giải thích - Khi đó, nó rộng lớn hơn nhiều. Tôi đã cho bố trí lại ... thành... nói như thế nào đây ... cứ cho là thành những phòng bảo tàng tái tạo lại không khí lịch sử. Cứ xem, rồi sẽ hiểu!

Bà mời khách vào 1 phòng nhỏ trong góc, có tường sơn màu đất son sáng. ở đó, chỉ có 1 chiếc giừơng nhỏ hẹp, 1 rương da, 1 chiếc ghế và bàn bằng ván gỗ ráp thủ công. Phía trên bàn, có 1 tấm gương giản dị trong khung gỗ thích.

- Gương này được mang đến Californie vào thời đổ xô đi tìm vàng - Bà Darnley nói - Gương được đặt làm ở Nouvelle Angleterre, bởi 1 người Mỹ muốn cưới ái nữ của 1 nhà quý tộc Tây Ban Nha. Gương này là 1quà tặng của anh ấy cho vị hôn thê.

- Hai người có lấy được nhau không? - Bob đánh hơi thấy có bi kịch hỏi.

- Họ đã lấy nhau, rất tiếc cho cô gái. Bởi vì đó là tấn thảm kịch. Anh chàng người Mỹ đó là 1 tay đánh bạc và anh thua bạc hết gia tài mình. Ðây là bản sao phòng riêng của vợ anh. Ðến cuối đời, bà ta không còn gì hết ... hoàn toàn không còn gì.

 
Ðề: Truyện ma có thật, anh em đóng góp thêm nhé (nhiều tác giả)

3. Lời nguyền của Chiavo

Rồi bà Darnley cho khách tham quan cái mà bà gọi là "phòng Victoria".

- Ðây là bắt chước chính xác phòng khách nhỏ, nơi nữ hoàng Victoria thường hay ngồi với mẹ khi còn là thiếu nữ, trước khi lên ngôi. Ðồ gỗ là bản sao trung thành của những gì bà có, nhưng tấm gương là thật. Tôi thích tưởng tượng nàng công chúa tôn nghiêm đang soi mình trong gương. Có lẽ lúc đó, nàng chưa ngờ nỗi những năm dài đấy vinh quang mà nàng sẽ được sống qua. Ðôi khi tôi mặc y phục thời đó, vào đây ngồi. Tôi không nghĩ mình là nữ hoàng Victoria. Tôi quá lớn tuổi rồi. Nhưng tôi thích tưởng tượng mình là mẹ của nàng.

Rồi mọi người bước sang phòng bên cạnh, dành cho Lincoln. Phòng tối tăm, đóng kín cửa, hôi mùi hấp hơi.

- Ðây là phòng tái tạo lại đúng y gian phòng mà bà Mary Todd Lincoln thích vào nghỉ khi mệt, vào lúc cuối cuộc đời, khi tổng thống đã qua đời. Gương này từng là của bà.

Chú Titus, đứng cạnh Hannibal, cảm thấy hơi căng thẳng.

- Tôi không thích căn phòng này, - chú nói khẽ. Trông thê lương quá.

- Phải, rất buồn tẻ, - bà Darnley đồng tình.

Sau khi khép cánh cửa lại, bà nói tiếp với niềm sốt sắng đột ngột:

- Ta hãy lên lầu 1. Tôi muốn cho mọi người xem phòng Marie-Antonette của tôi. Trên đó, tôi có ít đồ trang sức và chiếc gương cầm tay từng thuộc bà hoàng hậu bất hạnh ấy. Bộ váy tôi đang mặc là bắt chước 1 bộ trang phục có trên 1 bức chân dung của hoàng hậu.

- Cháu hiểu - Hannibal nói khẽ - Có phải là 1 gian phòng buồn, giống như phòng vứ rồi không ạ?

- Hiểu theo 1 cách, thì đúng là như vậy. Nhưng phòng rất đẹp. Tôi thích vào đó mơ mộng. Khi đó, tôi cố gắng không nghĩ đến cái chết bi thảm của bà Marie-Antonette đáng thương. Phòng này là bản sao của phòng trong lâu đài Versailles! Nhưng truoc khi lên, tôi muốn cho mọi người xem tấm gương cuối cùng mà tôi có được.

- Một vật xấu xí! - May khẳng định.

- Mọi người sẽ thấy nó ghê gớm lắm!- Jeff nói thêm.

- Gương xấu thật - Bà Darnley thừa nhận - Nhưng tôi rất hãnh diện về nó.

Trong tiếng lụa sột soạt, bà lại bước sang tiền sảnh, đi vào căn phòng tối tăm mà chú Titus và 3 thám tử đã để ý khi mới vào nhà. Mọi người bước theo bà. Bà bước thẳng đến cửa sổ, kéo màn cửa sổ. ánh sáng ban ngày tràn vào 1 gian phòng có tường phủ đầy kệ sách. Ðó là thư phòng. Chí có bức tường thứ 4 khác. Tường được lát gỗ sồi và có 2 cửa sổ dài nhìn ra ngoài đường. Giữa 2 cửa sổ có gắn tấm gương dài gần như từ sàn nhà lên đến trần.

- Ôi! - Peter thốt lên.

Ðúng là đáng kinh ngạc. Chính tấm gương thì không có gì đặc sắc. Nó phản chiếu chú Titus và 3 thám tử 1 cách bình thường, hình ảnh không bị méo mó gì. Nhưng khung gương thật kinh dị, làm bằng kim loại tầm thường, khắc những hình thù vừa lạ lùng vừa xấu xí. Giống như rễ cuốn quấn vào thân cây, đây đó có những khuôn mặt của sinh thể không hẳn là người. Một số có sừng trên trán. Một số khác có 2 khe thật mỏng thay cho mắt. Một số thì như đang phá lên cười quỷ quái. Ngay phía trên đỉnh khung, 1 hình khắc trung tâm, có 2 cái tai nhọn hoắt, đang cầm trong tay 1 con rắn.

- Mấy hình này là gì vậy? - Bob hơi sửng sốt hỏi.

- Chữ tiếng Tây Ban Nha là trasgos - Bà Darnley trả lời - Cứ dịch là " yêu tinh ác độc". Tấm gương này từng thuộc 1 pháp sư tên là Chiavo, sống ở Madrid cách đây khoảng 2 thế kỷ. Ông khẳng định rằng khi nhìn vào tấm gương này, ông thấy được thần linh của trái đất, và thần linh cho ông biết tương lai. Thần linh sống trong hang động, dưới cây, hay trong những ngôi nhà ẩm ướt và kỳ lạ như nhà này.

- Bọn chúng sống hòa thuận với rắn, trùn và những con vật hay bò khác, - Jeff nói thêm.

- Gớm! - May kêu.

- Tôi hết sức vui mừng vì có được tấm gương này - Bà darnley thú nhận - Tất cả mấy tấm gương mà tôi có đều có lịch sử riêng. Phần lớn đã phản chiếu sắc đẹp và những tấm thảm kịch lớn, nhưng nghe nói gương Chiavo là gương thần thật sự ... ít nhất đối với những người tin chuyện này.

Hannibal thầm nghĩ dường như chính bà cũng muốn tin rằng tấm gương này có phép thần.

Ðột nhiên tiếng chuông cửa vang lên.

- Rồi! - May nói khẽ. Chắc là ông Santora.

May mỉm cười rồi quay sang giải thích cho 3 Thám Tử Trẻ.

- Ông Santora từ Tây Ban Nha đến. Cũng như bà ngoại, ông là nhà sưu tầm đồ cổ và say mê gương, y như bà. Ông nhất định đòi mua tấm gương xấu xí này, với mấy thằng yêu tinh. Ông đến mỗi ngày, đúng giờ này.

Chuông lại vang lên nữa.

ánh mắt bà darnley đi từ gương sang tiền sảnh, rồi nhìn gương trở lại.

- Phải - Bà Darnley thở dài - Cứ mỗi ngày, ông đến đúng giờ này, suốt cả tuần lễ rồi. Còn hôm nay ...

Bà ngưng nói, để lửng câu.

- Còn hôm nay - Hannibal nói thản nhiên - 1 tên trộm bị phát hiện trong gian phòng này!

- Nhưng không ai lấy cắp được tấm gương này! - Jeff phản đối ngay - Khung làm bằng thép. Nặng 1 tấn. - Chỉ để dựng nó vào tường thôi, cũng cần đến 3 người!

Bà Darnley hất cằm lên, như để thách thức. Nét mặt bà dữ dằn lên.

- Ông Jones à - Bà nói với chú Titus - Tôi sẽ rất vui nếu ông và 3 thám tử đồng ý ở lại gặp ông Santora. Anh Warrington đánh giá 3 thám tử trẻ rất cao. Tôi muốn nghe ý kiến của 3 cậu về người ngoại quốc này.

Tiếng chuông vang lên lần thứ 3.

Bà Darnley không để cho chú Titus kịp trả lời.

- Con mời ông Santora vào đi! - Bà nói với May.

Người mà May mời vào phòng khách là 1 người đàn ông khá vạm vỡ, tóc đen nháy và đôi mắt to cũng màu đen. Bộ vét màu sáng có lẽ mua khá nhiều tiền.

- Thưa bà, nếu bà cho phép ... người lạ bắt đầu nói.

Rồi ông nhìn thấychú Titus và 3 thám tử. Ông đứng sững lại, chau mày, mím chặt quai hàm.

- Tôi tưởng bà ... bà ...

ông ngưng nói 1 lần nữa, như thể đang cố chuyển sang tiếng Anh những từ Tây Ban Nha mà ông nghĩ trong đầu.

- Tôi tưởng bà không có khách! - Ông kết thúc câu nói vụng về.

- Mời ông ngồi! - Bà Darnley nói sau khi gật đầu chào khách rồi tự mình ngồi xuống. Tôi đang kể cho bạn bè nghe lịch sử của niềm kiêu hãnh trong bộ sưu tập của tôi: Tấm gương thần.

- Tấm gương của Chiavo vĩ đại! - Ông Santora tự tin nói.

Ông ngồi xuống ghế, đặt 1 gói giấy trắng lên cái bàn nhỏ bên cạnh.

- Một tấm gương tuyệt diệu! - Ông nói thêm.

- Hết sức tuyệt diệu - Bà Darnley đồng tình - Tôi đã thường gặp nhiều khó khăn để lấy được 1 số tấm gương hiện có, nhưng tôi xin nói rằng sự kiên trì cương quyết của ông để đòi tấm gương này là vô duyên.

- Muốn có được tấm gương của Chiavo không phải là vô duyên - Người Tây Ban Nha đáp - Senora ... - Bà Darnley ... tôi xin được nói chuyện riêng với bà.

- Không cần thiết - Bà ngắt lời. Ta không có gì để nói cả.

- Có chứ, ta cần phải nói chuyện!

Giọng ông cao lên 1 chút. Ông cúi về phía trước, mắt nhìn chằm chằm bà Darnley, chờ đợi 1 câu trả lời. Trong phòng, không ai dám động đậy.

- Tôi hiểu! - Cuối cùng ông nói - Vậy tôi phải nói trước mặt khách của bà. Senora, như bà đã biết, tôi đề nghị mua tấm gương với số tiền rất cao. Hôm nay tôi sẽ chứng tỏ tôi có thể trả giá cao hơn nữa. Tôi đề nghị 10.000 đôla cộng với 1 món đồ quý giá trong bộ sưu tập của tôi.

Ông lấy gói giấy trên bàn, đưa cho bà Darnley.

- Ðây là 1 chiếc gương cầm tay tìm thấy trong phế tích Pompéi.

Bà Darnley cười:

- Tôi dư thừa tiền, không biết sài vào việc gì, còn mấy món đồ xuất xứ từ Pompéi, thì không có gì làm hiếm hoi cả. Ngược lại tấm gương có yêu tinh là độc đáo.

- Ðộc đáo - Ông Santora đồng tình - Không có tấm gương thứ 2 trên thế giới. Nhưng nó phải là của tôi.

- Không được.

- Quan trọng lắm. Bà không thể nào hiểu nổi đối với tôi nó quan trọng như thế nào đâu!

Ông gần như la lên.

- Tất nhiên là quan trọng, bởi vì chỉ có độc nhất 1 cái như vậy. Nhưng đối với tôi cũng quan trọng như đối với ông. Tôi không hiểu tại sao bộ sưu tập của ông được phong phú thêm, mà lại thiệt cho bộ sưu tập của tôi.

Santora hít vào thật sâu.

- Senora - Ông nói lớn tiếng - Tôi phải cảnh cáo bà...

Ông nắm chặt 2 tay. Hannibal thấy bà Darnley gồng người lên trên ghế.

- Cảnh cáo tôi à? - Bà kêu.

Bà nhìn thẳng vào mặt khách:

- Senor Santora! Ông có biết rằng hôm nay có kẻ đột nhập vào nhà tôi không? Hắn bị phát hiện chính tại đây, trong phòng này.

Nét mặt Santora mất dần màu sắc, tái hẳn đi. Người Tây Ban Nha liếc nhìn tấm gương.

- Trong phòng này à? - Ông hỏi lại - Nhưng... mà không, tôi không hề bíêt. Làm sao tôi biết được?

Ông nhìn sàn nhà.

- Hắn bị phát hiện tại đây... tại đây...

Ông ngẩng đầu lên, mỉm cười miễn cưỡng:

- Tôi nghĩ không có gì bất thường cả. Tôi đọc báo biết rằng ở nước này, thanh thiên bạch nhật, có những tên trộm cả gan lẻn vào những ngôi nhà mà chúng tưởng kh6ng có người. Tôi hy vọng cảnh sát sẽ trừng phạt tên trộm? thích đáng.

- Rất tiếc, hắn đã trốn mất rồi - Bà Darnley nói.

Ông Santora nhíu mày, như tập trung vào 1 vấn đề nào đó.

- Senora, - Cuối cùng ông thở dài - Tôi không biết gì kẻ đã đột nhập vào nhà bà. Nhưng cả 2 ta đều biết 1 người duy nhất, đặt biệt là 1 người thấp nhỏ, không thể nào lấy cắp tấm gương của Chiavo nổi! Bà đồng ý chứ? Nhưng tấm gương này nguy hiểm.

- Thế à? - Bà Darnley nói.

- Tôi chưa nói hết sự thật cho bà - Ông nói tiếp - Thật ra tôi không phải là nhà sưu tầm. Chiếc gương xuất xứ từ Pompei ... tôi mới mua hôm qua trong 1 cửa hàng bán đồ cổ ở Berverly Hills.

- Hy vọng ông không mua đắt quá! - Bà nói.

- Quá mắc ... bởi vì nó không làm cho bà đồng ý cho tôi gương Chiavo... Bà phải hiểu rằng... Không chỉ có 1 mình gương Chiavo là độc nhất trên thế giới. Chính tôi cũng độc nhất trên thế giới.

Bà Darnley lộ nét tức cười.

- Lời tuyên bố lạ lùng thật đấy, senor Santora!

- Tôi phải kể cho bà nghe lịch sử của tấm gương.

- Nhưng tôi đã biết rồi.

- Ðúng hơn là bà tưởng là bà đã biết.
 
Ðề: Truyện ma có thật, anh em đóng góp thêm nhé (nhiều tác giả)

Bây giờ nét mặt và giọng nói của người Tây Ban Nha không còn thể hiện dấu vết bực tức gì. Ông bắt đầu nói từ tốn, như biện minh:

- Chiavo là 1 pháp sư rất giỏi - ông bắt đầu nói - Chiavo cho chế tạo tấm gương đặc biệt này, và khi có được gương, ông đọc những câu thần chú trước gương. Khi được phù phép xong, gương cho phép ông nhìn qua đó thế giới yêu tinh, những thần linh mà người bình thường không thấy được. Và những thần linh này tiết lộ cho ông nhiều sự kiệnthuộc tương lai. Rồi ngày nọ, Chiavo biến mất.

- Tôi biết hết rồi - Bà Darnley khẳng định - Tôi cón biết Chiavo để lại tấm gương cho 1 gia đình ở Madrid: gia đình Estancia.

Santora gật đầu.

- Ðúng - Ông nói - nhưng bà không bíêt toàn bộ sự thật. Chiavo có kẻ thù: những kẻ sợ ông và cho rằng ông đã hại họ. Vì vậy mà ông đã không cho ai biết rằng gia đình Estancia thật ra chính là gia đình ông: vợ và con trai ông. Người con này lại sinh ra 1 đứa con trai nữa. Ðứa con trai này sinh ra 1 người con gái. Sau đó, người con gái lấy chồng và họ Estancia biến mất. Nhưng suốt thời gian đó, gia đình vẫn cất giữ tấm gương. Sau đó, cách đây hơn 45 năm, trước khi tôi sinh ra, tấm gương của Chiavo vĩ đại bị lấy cắp. Chuyện xảy ra tại Madrid. ồ! Tên trộm đã phải đền tội. Cha tôi lần ra dấu vết hắn và ...

- Cha của ông! Bà Darnley thốt lên - Có phải ông là cháu của Chiavo không?

Santora cúi chào.

- Ðúng, thưa bà. Cha tôi mới mất hôm nay. Chỉ còn mình tôi và tấm gương phải thuộc về tôi. Nó là của tôi và tôi muốn để lại cho con trai tôi.

Bà Darlay ngồi 1 hồi, bất động. Bà có vẻ suy nghĩ dữ dội.

- Khi tấm gương bị lấy cắp - Bà nói - Vì cha của ông đã tìm ra dấu vết của tên trộm, thì sao cụ không lấy lại được gương?

- Vì tên trộm đã chết và tấm gương lại rơi vào tay 1 tên vô lại khác. Thưa bà, đối với chúng tôi, thì tấm gương ấy vô hại. Chúng tôi biết bí mật tấm gương. Chúng tôi biết cách sử dụng nó và nhờ phép thần của nó chứng tôi có thể tiên đoán được tương lai.

- Một vật rất có ích - Bà Darnley hơi mỉa mai nhận xét.

- Ðúng vậy. Nhưng đối với những người không thuộc dòng máu Chiavo, thì tấm gương này nguy hiểm. Kẻ lấy gương của cha tôi được tìm thấy trong chính nhà mình... khi đã chết. Hắn không có vết thương nào trên người ngoài 1 vết phỏng nhẹ trên trán... vậy mà không còn sống nữa. Và tấm gương đã biến mất. Một lần nữa, cha tôi cố tìm cho ra. Một hôm, cha tôi nghe nói tấm gương thần đang nằm trong tay 1 người sống ở Barcelone. Cha tôi lên đường đi thành phố đó, nhưng đến quá trễ. Người đó đã tự treo cổ. Chủ nhà thì muốn lấy lại tiền thuê nhà mà người chết chưa trả và đã bán tấm gương. Người mua gương....

- Cũng tự treo cổ nữa à? - Bà Darnley hỏi.

- Bị mất mạng trong tai nạn đường sắt. Khi cha tôi bấm chuông nhà ông, thì ông đã chết rồi. Giữa lúc ấy, con ông lại trao tấm gương cho 1 người bạn đi Madrid. Người con có nói

rằng, trước khi chết ít lâu, cha anh ấy đã nhìn thấy 1 hình ảnh khủng khiếp trong gương: hình 1 người đàn ông tóc dài bạc trắng và mắt xanh lá cây. Ðó là hình ảnh của Chiavo. Cha tôi không ngạc nhiên. Thật vậy, chúng tôi thuộc gia đình Chiavo và chúng tôi đã biết ông đi đâu khi biến mất. Ông đi xuyên qua tấm gương đến với những ngôi nhà ngầm, nơi các thần linh nhỏ bé sống. Ông vẫn ở trong đó, nhưng đôi khi trở về tấm gương và nhìn ra bên ngoài. Ðiều này phải được hiểu như 1 lời cảnh báo.

Bà Darnley đưa tay lên ôm cổ:

- Ông ta đi xuyên qua... tấm gương à?

- Giống như Alice - May nói khẽ.

- Tôi không thể tin được - Bà của Mya tuyên bố.

- Có thể bà chưa tin - santora nói - Nhưng bà hãy nghe tiếp đây. Người đàn ông đi Madrid bán tấm gương cho 1 anh sinh viên đại học... 1 người tên Diego Manolos. ít lâu sau đó, Manolos rời khỏi Tây Ban Nha trở về quê hương mình. Ðó là 1 nơi mà bà biết, thưa bà: 1 hòn đảo nhỏ, nước cộng hòa Ruffino. ở đó, anh ấy cưới 1 cô gái, từng là bạn của bà, và vẫn là bạn của bà. Bạn của bà nghĩ gì về tấm gương?

- Cô ấy không thích nó, - Bà Darnley thừa nhận. - Bạn tôi cho rằng tấm gương xấu xí, và bạn ấy đúng. Gương không có gì là thẩm mỹ cả. Ðáng lẽ chị ấy đã tặng cho tôi từ lâu lắm rồi, nếu không bị ông chồng ngăn cản. Riêng chị bạn tôi chưa bao giờ thấy tấm gương có gì lạ. Nhưng gia đình Manolos đã giữ gương suốt 30 năm.

Santora cúi xuống bà Darnley và đột ngột nói khẽ đến nỗi Hannibal phải lắng tai mới nghe được ông nói gì:

- Tấm gương ấy bị nguyền rủa. Chiavo đã phù phép hại bất cứ ai giữ gương, nhưng lại không thuộc dòng máu mình.

- Nhưng Diego Manolos có bị gì đâu! - Bà Darnley phản đối - Trái lại, anh ấy rất thành công trên đường đời! Anh ấy làm cố vấn tổng thống Cộng Hoà Ruffino.

- Có lẽ lời nguyền đã lệch sang vợ anh ấy - Santora gợi ý - mắt nhìn bà Darnley đăm đăm không chớp - Kìa senora, bà hãy nói về chị bạn của bà. Vợ của Manolos có được hạnh phúc không?

Bà Darnley xoay đầu sang hướng khác để tránh ánh nhìn của Santora.

- Thật ra thì không - Bà miễn cưỡng thú nhận - Dường như lúc chồng còn sống, Isabella không được hạnh phúc. Anh ấy đối xử không tốt với vợ. Nhưng bây giờ anh ấy đã chết....

- Và sau khi anh ấy chết, việc đầu tiên mà vợ góa của anh làm, là gởi tấm gương cho chị! - Santora nhắc lại.

- Chị ấy biết tôi muốn cái gương đó.

Nói xong, bà Darnley hoàn hồn lại, như? vừa thức tỉnh sau 1 cơn ác mộng, rồi đứng dậy.

- Senor Santora, ông đã kể cho tôi nghe 1 chuyện rất khó tin. Không ai có thể biến mất trong 1 tấm gương. Nhưng nếu ông thật sự là con cháu của Chiavo, thì ông phải chứng minh được. Có giấy tờ... giấy khai sinh và các loại giấy tờ khác. Nếu tấm gương là sở hữu hợp pháp của gia đình ông, thì tôi sẽ trả lại ông.... Nhưng tôi cần chứng cớ.

Ðến lượt Santora đứng dậy theo và lấy lại gói đồ trên bàn.

- Tôi đã mất hết mấy năm mới tìm lại được gương - Ông nói - Cha tôi đã lần theo dấu vết của nó từ Madrid đến Barcelone, rồi từ Barcelone đến Madrid. Tôi thì theo gương đến Ruffino, nhưng khi tôi liên lạc được với vợ góa của Manolos, thì đã quá trễ. Bây giờ, thì tôi ở đây. Tôi phải mất 1 thời gian để lấy được những giấy tờ mà bà yêu cầu, nhưng tôi chờ được. Tôi sẽ viết thư về Tây Ban Nha.

- Tôi cũng sẽ chờ - Bà Darnley nói.

- Vâng, thưa senora. Nhưng trong khi chờ, bà nhớ là phải cẩn thận. Tấm gương này nguy hiểm.

Nói xong, ông bước ra. Ba thám tử trẻ nghe tiếng cửa mở ra, đóng lại.

- Câu chuyện thật khó tin! - Peter hơi xúc động nói.

- Chắc là ông ấy bịa ra thôi - Bà Darnley nói như để thuyết phục chính mình.

- Chắc Santora không phải là con cháu của Chiavo đâu. Mà không ai có thể biến mất vào gương. Nếu ông ấy thật sự là con cháu của Chiavo, thì tại sao không nói ngay từ lần gặp đầu tiên, cách đây hơn 1 tuần?

- Có lẽ - Hannibal trả lời - Vì ông ấy mới nghĩ ra chuyện ấy hôm nay thôi.
 
Ðề: Truyện ma có thật, anh em đóng góp thêm nhé (nhiều tác giả)

NGƯờI CHếT TRở Về
Ông bà Phạm trước đây luôn luôn cư ngụ ở thành phố, nhưng trước khi ông Phạm hồi hưu, hai ông bà quyết định về sống tại miền quê để được hưởng bầu không khí trong lành và sự yên tĩnh cần thiết cho tuổi già. Một hôm trong khi đang làm việc ngoài vườn, bà Phạm có cảm tưởng như mình đang bị ai đó theo dõi. Ngước mắt nhìn lên, bà thấy một thiếu niên ốm yếu với đôi mắt trũng sâu đang đứng nhìn bà. Cậu bé mặc một chiếc quần jean cũ và đi chân không. Bà giơ tay vẫy chào nhưng cậu bé cứ đứng bất động. Bà thầm nghĩ có lẽ cậu ta yếu ớt quá tới độ không đủ sức giơ tay lên vẫy lại. Đứng theo dõi bà làm việc trong vài phút, cậu bé quay mình rảo bước và chẳng mấy chốc đã biến dạng sau những bụi cây rậm rạp. Hai hôm sau cậu ta trở lại và đi cùng là một người đàn bà khoảng bốn mươi tuổi, cũng ăn mặc rách rưới, mặt mũi hom hem. Người đàn bà tiến tới sát hàng rào, lên tiếng hỏi bà Phạm :
- Bà là người mới mua mảnh đất này phải không?
- Dạ đúng đó. Bà có cần tôi giúp gì không?
- Tôi tới đây xem có giúp được gì cho bà hay không. Đây là Mẫn, con trai tôi. Nó làm việc rất giỏi và rất khoẻ mạnh chứ không yếu ớt như cái dáng vẻ bề ngoài của nó đâu. Nếu bà cần, nó sẽ phụ bà trong công việc vườn tược cũng như để bà sai vặt. Mỗi ngày chỉ xin bà cho cháu 5 ngàn đồng.
Bà Phạm toan từ chối vì bà không muốn cần có ai phụ giúp mà trái lại bà rất thích hoạt động một mình trong bầu không khí trong lành tại đây. Tuy nhiên trước hình ảnh tiều tụy của cậu bé với đôi tay buông xuôi và đôi mắt trõm lơ, bà hơi ngập ngừng:
- Con bà coi bộ còn nhỏ quá, và hình như nó cũng không được mạnh khoẻ lắm...
Người đàn bà giơ tay ngắt lời:
- Năm nay nó đã được mười sáu tuy coi nó có vẻ nhỏ hơn tuổi của nó. Như tôi đã nói, nó rất mạnh khỏe chứ không yếu đuối như hình dáng của nó đâu. Tôi bảo đảm là bà sẽ không có điều gì than phiền. Mẫn là một người giúp việc rất giỏi.
- Được thôi! Mỗi ngày cháu Mẫn có thể tới đây vào lúc mười giờ sáng và đi về vào lúc năm giờ chiều. Tôi sẽ cho cháu ăn trưa luôn.
Rồi bà Phạm quay sang phía cậu bé:
- Sao Mẫn, cháu thấy như vậy có được không?
Mẫn không trả lời khiến bà Phạm tự hỏi không biết cậu ta có nghe bà nói hay không vì cậu ta vẫn đứng yên cúi đầu, không hề ngước mắt. Mẹ của Mẫn ra hiệu cho bà Phạm bước ra xa với bà rồi bà thầm thì:
- Thưa bà, tôi không muốn con tôi phải đi đi về về vì nhà chúng tôi ở cách đây khá xa. Nó có thể ngủ trong căn chòi nhỏ đàng kia và xin bà đừng bận tâm gì về việc cho nó ăn uống. Tôi sẽ đem đồ ăn tới cho nó mỗi ngày. Nó ăn uống khó khăn lắm. Tôi biết nó muốn ăn món gì và sẽ lo cho nó. Mỗi lần tôi tới, xin bà cho tôi năm ngàn đồng.
- Thế còn cháu Mẫn thì sao? Nếu cháu ấy làm việc cho tôi, tôi phải trả tiền cho cháu mới phải!
Người đàn bà lắc đầu:
- Thưa bà, bà không hiểu. Tôi cần tiền để nuôi mấy đứa nhỏ ở nhà. Ba của cháu Mẫn mất rồi và bây giờ chỉ có mình nó là người có thể làm việc được để nuôi gia đình. Nó muốn làm việc để giúp đỡ tôi và bà sẽ không ân hận khi nhận cho nó giúp việc. Nó rất siêng năng, làm việc không biết mệt và không bao giờ than phiền bất cứ điều gì cả.
- Thôi được rồi. Nhưng tôi nghĩ rằng có lẽ nó không nên ngủ ngoài lều, để tôi sửa soạn một phòng trong nhà dành cho nó. Nhà tôi rất rộng!
- Thưa bà không sao đâu. Nó không cần ngủ trong nhà đâu. Nó khó ngủ lắm và tôi không muốn nó làm phiền bà. Nó ngủ trong cái chòi tranh kia là tốt nhất.
Thế là ngày hôm sau Mẫn tới làm việc cho bà Phạm. Chẳng bao lâu, bà Phạm nhận thấy những gì mẹ cậu ta nói với bà hoàn toàn đúng. Mẫn không bao giờ than phiền cũng như không bao giờ tỏ ra mệt mỏi. Mỗi buổi sáng dù ông bà Phạm dậy sớm tới đâu đi nữa, Mẫn đã đang làm việc hăng say, khi thì cho gà vịt, cho cá ăn khi thì làm vườn... Dần dần bà cho Mẫn làm một vài việc vặt trong nhà và bất cứ việc gì bà sai cậu ta, không bao giờ bà phải nhắc lại lần thứ hai. Một hôm, bà nói với ông Phạm:
- Thằng bé Mẫn nó giỏi thật! Nhưng nó không giống một đứa con trai mà giống như... một cái máy vậy. Ông có biết là nó không hề nói một lời nào với tôi hay không? Nó cũng không bao giờ nhìn tôi mà chỉ luôn luôn nhìn xuống đất.
Ông Phạm càu nhàu:
- Hừ! Tôi chỉ biết một điều là nó làm cho tôi nổi da gà. Có thể nó bị câm hay sao đó. Và theo ý tôi, có thể tâm trí nó không được bình thường cho lắm.
Bà Phạm lắc đầu:
- Không thế đâu, tôi thấy nó rất thông minh. Tôi chỉ có cảm tưởng như nó là một kẻ mộng du, làm việc trong khi đang ngủ...
Ông Phạm ngắt lời:
- Ờ, thì... giá thuê mướn như vậy cũng được... À, mà không được! Chỉ có năm ngàn đồng một ngày quả là không thể chấp nhận được khi nó làm việc thật siêng năng. Mình cho nó lên mười ngàn đồng đi. Tôi không bực bội gì vì sự hiện diện của nó, nhưng để coi việc tăng lương có khiến nó phản ứng gì hay không.
Bà Phạm thì không nghĩ rằng Mẫn để ý tới vấn đề tiền bạc vì cậu ta không bao giờ đụng chạm tới. Mỗi ngày, sau buổi trưa cậu bé ngưng làm việc, đứng yên một chỗ nghiêng đầu như nghe ngóng. Chỉ mấy phút sau mẹ cậu xuất hiện từ sau hàng cây dâm bụt dầy đặc, mang đồ ăn trên một cái gà-mên đậy kín tới cho cậu. Bà ta chờ tới khi bà Phạm trả tiền rồi mới dẫn con tới lều và ngồi chờ trong khi con bà ăn uống. Bà Phạm nói với chồng bằng một giọng bất bình:
- Tại sao bà ta lại không chịu để tôi cho nó ăn uống? Tôi đã thấy món ăn bà ta đem tới cho nó, trông giống như một loại cháo lỏng. Đó không phải món ăn thích hợp cho một đứa bé làm việc vất vả như vậy. Tôi thấy hình như nó còn ốm hơn khi vừa mới tới đây nữa.
Bà Phạm cố gắng một lần nữa khi gặp mẹ Mẫn:
- Tôi muốn cho cháu Mẫn ăn đồ nóng hàng ngày. Nếu không, tôi không thể để nó tiếp tục làm việc như hiện tại. Nó mỗi ngày một gầy yếu. Tôi sợ rằng nó có thể bị bệnh hay làbị suy dinh dưỡng.
Một nét hoảng hốt hiện lên trong đôi mắt người đàn bà:
- Thưa bà, bà không hiểu đâu. Mẫn giống y như cha nó. Nó không ăn được những món ăn của bà và của tôi. Nó không thể ăn muối được. Cơ thể của nó không chịu đựng được muối. Xin bà cứ để mọi việc diễn tiến như hiện tại và xin cho cháu nó tiếp tục làm việc với bà. Nó là đứa con duy nhất mà tôi nhờ cậy được. Nếu không có số tiền mà nó kiếm được ở đây, mấy em nó ở nhà sẽ chết đói hết cả.
Bà Phạm đành phải nhượng bộ:
- Thôi được. Nó có thể tiếp tục làm việc với tôi. Phải nhìn nhận rằng nó làm việc rất giỏi nhưng nó có vẻ không được vui lắm khi ở với chúng tôi. Nó không bao giờ cười và cũng không bao giờ nói một lời với tôi hoặc nhà tôi.
Người đàn bà nhún vai:
- Thưa bà, điều đó không có nghĩa gì hết. Mẫn là đứa trẻ rất khác người. Nó không có cùng sự xúc cảm như những đứa trẻ khác. Nó chỉ biết một việc duy nhất là giúp đỡ tôi và các em nó. Xin ông bà đừng thắc mắc gì về nó. Nó luôn luôn làm những gì nó muốn. Xin hãy để yên cho Mẫn…
Tuy nhiên bà Phạm vẫn tự hỏi “Có phải đó là việc Mẫn muốn làm hay không?”. Rồi một buổi tối hôm đó bà đứng ở cửa sổ phòng ngủ nhìn ra căn chòi tranh nơi Mẫn thường ngủ. Cậu bé không ngủ mà ngồi ngay ở cửa, hai tay bó gối nhìn ánh trăng không chớp mắt. Bà nói lớn:
- Chắc có điều gì lạ lắm thì phải.
Ông Phạm đang ngái ngủ lên tiếng:
- Bà nói cái gì thế?
- Thằng Mẫn đó. Tôi đứng theo dõi nó đã nửa tiếng đồng hồ. Nó ngồi yên như phỗng đá vậy. Với những việc nó làm ban ngày, đáng lẽ nó đã phải ngủ từ lâu rồi. Nhưng mà không, nó vẫn ngồi bó gối ngoài kia kìa.
Ông Phạm vừa ngáp vừa tiến tới bên vợ:
- Đáng lẽ tôi phải cho bà biết điều này từ lâu rồi. Tôi thấy nó vẫn luôn luôn ngồi đó suốt đêm. Theo tôi biết, nó hình như không bao giờ ngủ. Thú thực với bà, tôi thấy thằng bé này có vẻ ma quái quá! Nhưng thực ra nó đâu có làm gì phiền ai đâu!
Bà Phạm không nói nhưng biết rõ rằng Mẫn đã khiến bà lo nghĩ rất nhiều. Sáng hôm sau, hình dáng cậu bé khiến bà cảm thấy bất nhẫn. Làn da xanh xao của Mẫn bây giờ đã trở thành vàng khè, bóng loáng. Xương trán và xương má của Mẫn như lộ rõ ra. Bà còn lo lắng hơn nữa khi thấy Mẫn có vẻ chậm chạp hơn và mệt mỏi hơn thường lệ. Bà hỏi:
- Sao, cháu thấy không được khoẻ trong người có phải không?
Mẫn không đáp lại, lặng thinh cúi đầu đi qua trước mặt bà. Cảm thấy bứt rứt, bà Phạm nói với chồng:
- Ông coi nó kìa. Tôi nghĩ rằng nó bị bệnh. Nó di chuyển như một ông già vậy.
Ông Phạm chăm chú nhìn Mẫn đang cắt cỏ một cách chậm chạp:
- Bà nói đúng. Sao da nó bị đen nhiều chỗ thế nhỉ?

Nghĩ rằng có lẽ Mẫn thiếu chất protein, bà Phạm bèn làm món súp khoai tây, cà rốt, sườn heo, hột gà, còn thêm một ly sữa tươi và một cái bánh ngọt. Xong xuôi bà gọi Mẫn vào, đưa cậu ta vào phòng ăn và nói thật ngọt ngào:
- Cháu mau ngồi vào bàn đi. Tôi sửa soạn một bữa ăn thật đặc biệt cho cháu vì hôm nay là đúng ba tháng cháu làm việc với tôi. Đây là một dịp kỷ niệm dành cho cháu.
Mẫn cắn một miếng, rồi một miếng nữa. Cậu nhai miếng sườn heo chầm chậm trước khi nuốt. Rồi cậu ta từ từ đứng lên. Bà Phạm lên tiếng với vẻ lo lắng:
- Sao vậy? Cháu chưa ăn xong mà muốn đi đâu vậy?
Nhưng Mẫn đã đi ra ngoài rồi. Bà Phạm chạy tới mở tung cánh cửa. Mẫn đã đi tới hàng cây bao quanh mảnh đất với những bước chân thật dài. Bà Phạm lớn tiếng gọi nhưng Mẫn vẫn không hề nhìn lại.
Đêm hôm đó bà Phạm trằn trọc suốt đêm. Hôm sau khi trời mới tờ mờ sáng bà đã dậy, ra vườn đi tới đi lui. Đúng như bà lo ngại, Mẫn đã không quay trở lại. Tuy nhiên ngay trước buổi trưa, mẹ cậu ta tới nơi, tiến thẳng tới trước mặt bà Phạm, khuôn mặt bà ta đanh lại:
- Bà đã làm việc đó phải không? Bà cho nó ăn sau khi tôi đã dặn bà không được làm như vậy. Bà cho nó ăn cái gì thế?
- Thì... tôi cho nó ăn súp khoai tay và sữa tươi, là những thứ đồ ăn cần thiết cho Mẫn.
Người đàn bà rên lên:
- Súp khoai tây! Trời ơi! Bà cho nó ăn muối rồi!
Rồi bà ta rít lên the thé:
- Bà điên rồi hay sao? Tại sao bà không để nó được yên?
Bà Phạm có vẻ bối rối:
- Tôi rất tiếc nếu đồ ăn của tôi khiến cho cháu Mẫn bị bệnh.
Người đàn bà kia im lặng trong một phút trước khi lên tiếng bằng một giọng khá buồn bã:
- Thưa bà, xin bà vui lòng đi theo tôi để xem những gì bà đã làm cho con tôi.
Người đàn bà quay lưng. Bà Phạm đi theo bà ta xuyên qua cánh rừng trước khi tiến tới một chân đồi. Khoảng nửa tiếng sau, hai người tới một túp lều xiêu vẹo nơi ba đứa nhỏ đang ngồi yên ngoài cửa. Khi bà Phạm ngưng lại, người đàn bà nắm tay bà tiếp tục kéo lôi đi. Bà Phạm hỏi:
- Đây không phải nhà bà hay sao? Cháu Mẫn không có trong căn nhà này hay sao?
Người đàn bà lắc đầu tiếp tục đi tới. Mấy phút sau cả hai vượt qua một hàng cây trước khi tiến tới một khoảng đất trống với một vài ụ đất cỏ mọc um tùm. Một vài ụ đất có cắm cây thánh giá, những ụ khác thì không. Bà Phạm rùng mình:
- Đây là chỗ nào vậy bà?
Người đàn bà thản nhiên đáp:
- Một khu nghĩa trang cũ. Không còn ai dùng đến nữa. Đây, mời bà tới đây.
Rồi bà ta chỉ vào một ụ đất. Bà Phạm giật mình nổi gai ốc khi thấy đám cỏ phía trên như bị xé bung ra và dường như có người tìm cách đào một cái hố ở phía dưới.
Không một ai hoặc một sức mạnh nào có thể buộc bà tới gần ngôi mộ bị đào tung lên đó. Tuy nhiên từ nơi bà đứng, bà Phạm nhìn thấy dưới hố một hình thù co quắp trong chiếc quần jean sờn rách và cái áo thun bẩn thỉu. Người đàn bà rên rỉ:
- Đó, thằng Mẫn đó. Đó là chỗ bà đưa nó tới đó. Chồng tôi và nó chết từ hai năm nay giữa một mùa đông lạnh lẽo vì chứng sưng phổi. Tôi cầu khẩn cả hai trở lại nhưng chỉ có thằng Mẫn đáp lại lời cầu xin của tôi. Nó biết là tôi cần nó. Nó muốn săn sóc cho tôi và mấy em của nó. Nó luôn luôn là một đứa con ngoan ngoãn.
Bà Phạm ngẩn ngơ:
- Bà nói gì thế? Tôi... tôi không hiểu gì cả...
Người đàn bà dường như không để ý, lẩm bẩm:
- Tôi phải săn sóc cho nó thật cẩn thận. Bà có biết là bà không thể cho người chết ăn muối hay không? Muối làm người chết quên tất cả mà chỉ nhớ chỗ ngơi nghỉ cuối cùng của họ mà thôi. Chính bà đã khiến cho thằng Mẫn phải trở về với nấm mồ cũ của nó, và từ bây giờ trở đi, chắc chắn là nó sẽ không bao giờ rời khỏi nơi đó nữa…
 
Ðề: Truyện ma có thật, anh em đóng góp thêm nhé (nhiều tác giả)

4. Điều bí ẩn

Trước khi chào từ biệt bà Darnley, Hannibal đưa cho bà danh thiếp của Ba Thám Tử Trẻ.

-Số điện thoại của tụi cháu ghi phía dưới - Hannibal nói - Nếu giúp được bà điều gì, tụi cháu rất sẳn sàng.

Như không để ý cách ăn nói cầu kỳ của thám tử trưởng, bà máy móc cầm lấy tấm giấy cứng, xếp làm đôi. Rõ ràng bà đang nghĩ đến chuyện khác.

- Không ai có thể biến mất vào gương - Bà nói lại.

- Ðương nhiên - Hannibal nói - Nhưng để xem các giấy tờ mà ông Santora sẽ trình bà để làm cơ sở cho câu chuyện của ông ấy.

Bà gật đầu. Khách chào bà trên ngưỡng cửa tiền sảnh. Bà đứng bất động ở đó, giữa 2 đứa cháu ngoại. Nét mặt bà mệt mỏi và trông bà thật bơ phờ trong bộ trang phục thuộc thời đại khác. Ðó không còn là người mà khách mới quen biết cách đó không lâu: nhanh nhẹn, say mê gương và thích hóa trang làm nữ hoàng Marie-Antoinette.

- Ngôi nhà này làm mình thấy khiếp quá - Peter nói khi xe chạy về Rocky.

Hannibal không trả lời. Ngồi tựa vào bồn tắm cũ, thám tử trưởng dùng 2 tay ôm đầu gối, nhắm mắt lại, bất động....

- Babal, cậu nghĩ gì vậy? - Bob hỏi.

- Nghĩ đến 1 điều... 1 điều mà ông Santora đã nói... 1 điều gì đó nghe chối tai.

- ông ấy kể những điều gì đâu! - Peter kêu - Chuyện gương thần và những chuyện tào lao khác nữa! Làm sao có thể chui qua bên kia tấm gương và ở lại bên đó được! Càng không thể thỉnh thoảng trở lên mặt gương để hù dọa... hay báo tin gì đó cho người ta...

- Mình không nghĩ đến chuyện đó - Hannibal ngắt lời - Ta phải xem chuyện ông Santora kể như 1 truyền thuyết.... Hoặc như 1 chuyện bịa đặt để hù bà Darnley và khiến bà nhường lại tấm gương.

- Dường như mình đoán ra điều làm cậu thắc mắc - Bob nói - Chính mình cũng hơi giất mình khi ông Santora nói là phải mất 30 năm mới tìm ra được dấu vết tấm gương ở Ruffino. Khó tin quá. Một người làm cố vấn cho tổng thống 1 nước cộng hòa là 1 người mà ai cũng biết đến. Ông ta không thể lẫn trốn được và công chúng biết tất cả về ông ta. Diego Manolos đã giữ tấm gương cho đến lúc chết. Ðiều đó không bí mật gì.

- Ruffino là 1 nước cộng hòa nhỏ, - Hannibal nhận xét - Cậu biết gì vế nước này?

Khi thấy Bob vẫn im lặng, tuy là "nhà bác học" của nhóm. Hannibal nói thêm:

- Ruffino chỉ là 1 quốc gia ít được nói đến. Cũng có thế phải mất 30 năm mới có thể tìm tấm gương được. Không, không phải điều này làm mình thắc mắc. Cái làm mình suy nghĩ là Santora đã nói về nhận dạng của tên trộm.... Nhớ lại đi! Ông ta nói: "Ta đều biết 1 điều duy nhất, đặc biệt là 1 người thấp nhỏ, không thể nào lấy cắp tấm gương của Chiavo nổi". Mà ông ta không hề thấy tên trộm lẻn vào nhà bà Darnley và không được nghe ai mô tả. Tuy nhiên ông ta lại biết: đúng, tên trộm là người nhỏ thấp.

Bob rên:

- Trí nhớ cậu y như máy ghi âm! Có thể ông ấy nói thế, nhưng lại không hề biết. Bất cứ ai cũng trở nên nhỏ bé nếu phải dịch chuyển 1 tấm gương như thế. Bộ cậu nghi ông Santora có tội trong vụ trộm ấy à?

- Ông ấy có vẻ ngạc nhiên thật sự khi nghe nói đến chuyện trộm, - Hannibal như đang nói với chính mình - Dường như ông cũng có vẻ hơi hoảng hốt. Ðối với ông, việc đó có ý nghĩa. Mặc dù bà Darnley không nói gì, nhưng ông hiểu ngay là người lạ mặt quan tâm đến chiếc gương. Và chỉ khi đó ông mới nói mình là con cháu của Chiavo... như thể thời gian đột ngột gấp lên và ông buộc phải hạ con át chủ bài để thử lấy tấm gương.... Không đâu! Theo mình, Santora không hề biết gì về vụ trộm cho đến khi bà Darnley cho ông biết. Nhưng mình nghĩ có thể ông ấy biết tên trộm. Dù gì, mình tin chắc ta sẽ sớm nghe nói đến gương nữa cho xem.

- Mình, thì không muốn chút nào! - Peter thẳng thừng.

Hannibal mỉm cười... 1 nụ cười quen thuộc mỗi khi phát hiện 1 vụ bí ẩn nào đó. Peter và Bob không lầm. Hannibal sắp bước vào 1 cuộc phiêu lưu mới và sẽ không chịu thua cho đến khi nào làm sáng tỏ mọi việc.

- Ta phải chuẩn bị sẳn sàng - Hannibal nói khẽ - Santora sẽ cần 1 tuần lễ để cho gởi tài liệu từ Tây Ban Nha sang. Từ đây đến đó, mình xin nói lại 1 lần nữa, ta phải chuẩn bị sẳn sàng.

- Bằng cách nào? - Peter hỏi.

- Bằng cách săn lùng thông tin - Hannibal nhanh nhẹn giải thích - Ta hãy tìm thông tin về Ruffino. Và về Chiavo nữa. Theo như bà Darnley nói, đó là 1 pháp sư tài giỏi. Nhưng mình chưa bao giờ nghe nói đến ông này. Ta có nhiều việc phải làm, nhưng khi đã biết được thông tin, ta sẽ có khả năng hành động.

Dự đoán của thám tử trưởng thành sự thật. Hầu như đúng 1 tuần lễ sau chuyến đến thăm bà Darnley, 3 thám tử trẻ thấy Jeff Parkinson đến.

Jeff đi xe ca từ Hollywood đến Rocky và đi thẳng đến Thiên Ðường Ðồ Cổ. Hannibal đang sửa vặt trong xưởng sửa chữa và chỉ rời mắt khỏi cái máy in cũ khi thấy mái tóc màu hung của Jeff cách đó vài bước. Hannibal chùi tay nhanh vào cái giẻ và hỏi ngay:

- Có tin gì về Santora không?

Jeff lắc đầu, rồi ngồi xuống cái ghế đu cũ kỹ.

- Không có dấu hiệu gì về ông ấy nữa!

?Peter bước vào. áo sơ mi mới ủi, tóc còn ướt.

- Chào! - Peter nói khi thấy Jeff - Có chuyện gì mà bọn mình lại vinh dự thấy mặt cậu?

- Chuyến đi lướt ván của cậu thế nào? - Hannibal hỏi Peter.

- Ðầy sóng gió! - Peter vừa nói vừa ngồi xuống cái thùng - Sóng to lắm! Mình bị té 3 lần, khá mạnh. Nên mình dừng lại trước khi bị gãy cổ. Tắm xong, là mình đến ngay đây.

Jeff cười.

- Bác Warrington có nói cậu là người cẩn thận nhất trong nhóm! cậu Peter không bao giờ chịu mạo hiểm vô ích. Bác thường nói thế.

Peter không giận và cười theo.

- Nguy hiểm là chuyện bình thường khi đi theo Hannibal Jones. Babal liều lắm!

- Ðôi khi cần phải chịu mạo hiểm nếu muốn làm sáng tỏ bí ẩn, Hannibal nghiêm trang khẳng định.

Hannibal nói đúng.

Lúc đầu, khi Hannibal, Peter và Bob mới lao vào những cuộc điều tra, thì đống hồ sơ không. Nhưng nay, ngăn hồ sơ đã đầy ắp những ghi chép của " Lưu trữ nghiên cứu". Ðống hồ sơ này chứng tỏ 3 thám tử đã đạt được những kết quả có thể làm cho ngay cả những thám tử chuyên nghiệp cũng phải ganh tị. Nhưng, để giải mã những bí ẩn, bộ 3 đã phải chịu mạo hiểm, đôi khi rất nguy hiểm. Hannibal không thuộc loại người dễ lùi bước trước nguy hiểm

- Mình nghĩ cậu đến đây để báo cho bọn mình 1 điều gì đó quan trọng, phải không? - Hannibal nói với Jeff.

- Quan trọng... mình cũng không bíêt nữa - Jeff thú nhận - Các cậu đã nghe chuyện ông Santora kể về nhà pháp sư già đã đi xuyên qua tấm gương để đến sống ở thế giới yêu tinh....

- Chuyện hoang đường! - Hannibal thở dài- Nhưng cậu nói ông Santora không cho biết tin gì từ hôm bữa à. Vậy mình suy ra ông ấy vẫn chưa đưa cho bà ngoại cậu xem giấy tờ chứng nhận ông ấy đúng là con cháu của Chiavo à?

- Chưa. Nhưng nếu đưa chứng cớ ấy ra, thì ông ấy sẽ lấy được gương. Bà ngoại lương thiện và công bằng, bà không muốn gây thiệt hại cho ai hết. Nhưng bà không muốn người ta lừa bà. Bà ngoại không buông gương yêu tinh chỉ vì Santora kể cho bà nghe 1 câu chuyuện cổ tích.... Mình sẽ nói lý do mình đến đây. Hôm bữa, các cậu có gặp John Chan ở nhà....

- John Chan? Người giúp việc cho bà Darnley à? Có gặp. Thì sao?

- Anh ấy đằm tính - Jeff nói - Anh ấy làm cho bà ngoại được mấy năm rồi và mình chưa bao giờ thấy anh ấy mất bình tĩnh hay xúc động vì bất cứ lý do gì. Anh ấy làm việc có lương tâm, nấu ăn như đầu bếp nhà hàng và thời gian rỗi thì chơi ghita. Các cậu biết không, anh ấy học ở đại học Harvard. Ba anh ấy muốn anh trở thành luật sư, nhưng anh John lại thích ghita cổ điển.
 
Ðề: Truyện ma có thật, anh em đóng góp thêm nhé (nhiều tác giả)

- Thì sao? - Hannibal hỏi lại.

- Mình chỉ muốn nói rằng anh John là người có học và trầm tĩnh. Vậy mà... bây giờ anh ấy lại hay nghe tiếng động và... hình như mình cũng thế.

Peter và Hannibal chờ đỡi nghe tiếp.

- Tối qua mình nghe có tiếng động.... Giống như tiếng cười. Mình dậy và xuống nhà. Cửa vào vẫn khóa y như lúc trước khi lên ngủ. Mình bật đèn phòng khách và không thấy gì bất thường hết. Mình định về phòng thì tự nhiên có cảm giác lạ lạ... các cậu biết không, giống như khi thoáng nhìn thấy 1 cái gì đó. Mình tưởng có ai vừa mới vào thư phòng hay có ai động đậy trong phòng đó. Mình vào, bật đèn sáng lên. ở đó, cũng không thấy gì bất thường. Nhưng quay ra tiền sảnh, mình gần như đụng đầu vào anh John mặc áo ngủ đang tiến tới, tay cầm dao. Ngay lúc đó, mình tưởng anh John bị điên. Nét mặt anh ấy có vẻ rất lạ lùng, mà lại đang cầm dao nửa. Mình sợ lắm.

- Rồi sao? - Hannibal hỏi lần thứ 3.

- Thì mình chỉ nói: "Chào!". Anh ấy bình tĩnh lại ngay và trả lời: "à, ra là cậu thôi!". Mình và anh John đang đứng đối mặt nhau, thì tiếng cười lại vang lên. Phát ra từ thư phòng... chỗ có tấm gương. Anh John lao thật nhanh vào phòng. Không có ai hết. Hoàn toàn không có ai. Bốn bức tường, 1 đống sách và tấm gương. Không thấy gì khác.

Peter gãi đầu.

- ý cậu muốn nói rằng tấm gương thật sự có phép à?

- Mình biết trả lời cậu thế nào đây? Dù người ta có kể thế nào đi nữa, mình không tin là nhà có ma. Ðúng là không khí nhà hơi lạ lùng, nhưng chưa có hiện tượng bất thường nào xảy ra trước mặt bà ngoại.

- Ngôi nhà thú vị đấy chứ - Hannibal tuyên bố - Mình đã đọc nhiều bài nói về nhà này. Nhà ảo thuật Drakestar đã xây nhà sau khi rời sân khấu. Khi đó, ông nghiên cứu thuật thông linh và mời nhiều bạn bè về nhà để chứng kiến những buổi thí nghiệm. Ông qua đời cách đây 12 năm. Những người mua nhà phao tin đồn rằng ma chủ cũ thỉnh thoảng vẫn hiện về.

- Họ bảo họ nghe tiếng động khi đêm khuya - Jeff nói rõ - Nhưng bà ngoại sống ở nhà này 10 năm nay rồi. Bà chưa nghe tiếng gì khả nghi cả. Bà nghĩ người chủ trước giàu trí tưởng tượng thôi. Nhưng anh John cũng bị thức giấc, vì nghe tiếng cười... và mình cũng nghe thấy. Anh John không tin ma. Nhưng bây giờ anh ấy lại thấy căng thẳng. Anh ấy nói là đêm sau, anh sẽ để con dao dưới gối mới dám ngủ... phòng khi cần.... Và anh John bắt mình phải hứa không nói gì với bà ngoại hết. Anh không muốn bà lo. Nhưng mình nghĩ chính bà cũng có nghe tiếng.

- Bà có nói với cậu à? - Peter hỏi nhanh.

- Không. Nhưng sau chuyện thư phòng, còn thế này nữa đây. Mình trở lên ngủ, và anh John cũng thế. ít lâu sau, mình lại thức dậy nữa: mình nghe tiếng cửa phòng bà ngoại mở ra kêu khẽ. Mình ra cửa xem sao. Bà ngoại đang đứng đó, trên cầu thang và nhìn xuống dưới. Mình hỏi bà có bị sao không. Khi nghe tiếng mình, bà giật mình quay lại và trả lời bà khát và định xuống uống miếng nước. Bà bảo mình về phòng ngủ. Mà bà ngoại không bao giờ thức giấc giữa đêm. Bà rất khỏe và ngủ ngon giấc từ tối đến sáng, thẳng 1 giấc. Mình nghĩ bà cũng có nghe tiếng gì đó.

- Bà có vẻ sợ sệt hay lo lắng gì không? - Hannibal hỏi.

- Mình cũng không bíêt. Bà không nói gì với mình và trông như mọi khi. Nhưng mình chắc chắn bà có nghe tiếng động và mình biết chắc mình cũng có nghe. Các cậu biết không, trước giờ chưa có chuyện gì bất thường xảy ra. Vậy chỉ có thể là con ma Drakestar. Hay là tấm gương quỷ quái kia.... Cả 3 cậu đều là thám tử. Hay các cậu thử tìm hiểu thêm về tấm gương ấy? Thật ra, bà ngoại không biết nhiều lắm đâu. Bà chỉ biết những gì bạn của bà kể lại.

- Bà goá Manolos hả?

- Phải! Khi bà ngoại còn là nữ sinh, bà là bạn học gốc gác ở Ruffino. Cả 2 học cùng trường nội trú. Ruffino là 1 nước cộng hòa nhỏ, chỉ là 1 hòn đảo, nằm ngoài khơi bờ Nam Mỹ. Một số gia đình ở Ruffino thích gởi con cái sang Mỹ học. Khi có bằng cấp rồi, bà Isabella, bạn của bà ngoại trở về nhà. Do đã đến tuổi lấy chồng, bà lấy ông Diego Manolos. Bà ngoại vẫn liên lạc với bà Isabella. Thậm chí bà ngoại có đến Ruffino 2 lần thăm bạn. Nhưng bà ngoại không thích ông Diego. Bà ngoại cho rằng ông ấy là tên vô lại và thấy rõ ông làm khổ vợ. Tuy thế, ông ấy vẫn tiến thân nhanh và trở thành cố vấn tổng thống. Ông ấy chết cách đây khoảng 1 tháng. Bà Isabella Manolos gởi ngay tấm gương cho bà ngoại. Ta đã biết ông Diego mua tấm gương ở Tây Ban Nha và biết rằng, theo truyền thuyết, Chiavo dùng gương để liên lạc với các thần linh khủng khiếp xấu xa. Ta biết thế, ngoài ra không biết gì hơn.

- Tấm gương ấy đã kích thích lòng tò mò của bọn mình - khi đó Hannibal thú thật - Có thể bọn mình sắp cho cậu biết thêm về gương và Chiavo. Bob và mình đã bỏ ra nhiều ngày để tìm kiếm thông tin về pháp sư Tây Ban Nha. Rất tiếc là thư viện Rocky không có gì liên quan đến ông ấy. Thư viện Los Angeles cũng thế. Cho nên sáng nay, Bob đã đi đến thư viện trường đại học Ruxton. ở đó có 1 giáo sư nhân chủng học, là tiến sĩ Barrister, chuyên sưu tầm những chuyện liên quan đến các hiện tượng tâm lý.

- Mình đã về! - 1 giọng nói quen thuộc thông báo.

Bob vừa mới xuất hiện ở ngưỡng cửa xưởng.

- Dường như về đúng lúc - Bob vui vẻ nói thêm - Chào Jeff.

- Cậu tìm được gì không? - Hannibal hỏi.

- Ðương nhiên! Trường đại học Ruxton là 1 nơi tuyệt lắm. Tiến sĩ Barrister là tác giả của 2 bài báo dài nói về tấm gương Chiavo. Theo chuyện đồn đại từ xưa về Chiavo, thì ông ấy là 1 phù thủy rất mạnh và đúng là tấm gương có phép thần. truyền thuyết còn nói là Chiavo không chết. ông ấy chỉ đi xuyên qua tấm gương để đến với các thần linh, y như ông Santora đã kể.

- Sắp có bão! Peter thông báo.

- Vì 1 lí do bí ẩn nào đó - Peter nói thì thầm.

Ðúng lúc đó, bóng đèn biện đỏ trên bàn thợ sáng lên.

- A ha! hannibal kêu.

Hannibal nhanh tay dẹp cái thùng che dấu 1 lỗ hổng trên tường bên cạnh mình, rồi chui vào đó qua 1 ống bằng tôn uốn. Jeff tròn mắt ngạc nhiên:

- Cái gì....? - Jeff bắt đầu nói.

Bob đưa tay ra lệnh Jeff im lặng. Vài phút sau bóng đèn đỏ tắt đi. Bob chỉ cho Jeff thấy:

- Ðèn này là tín hiệu báo rằng chuông điện thoại đang reng o83 bộ tham mưu của bọn mình - Hannibal đã chui vào lối mật số 2 để đi trả lời điện thoại. Bóng đèn tắt đi khi Hannibal nhấc máy.... Bà ngoại có bíêt cậu đang ở đây không?

- Không. Nhưng mình có báo cho em gái bíêt.

Ði theo Bob và Peter, Jeff bò dọc theo ống tôn có đệm mảnh thảm cũ bên trong. Ðầu bên kia, có 1 cửa sập dẫn thẳng lên bộ tham mưu của Ba Thám Tử Trẻ. Hannibal đang đứng trước máy điện thoại, ống nghe áp sát vào tai.

- Cách đây khoảng bao lâu rồi? - Hannibal đang hỏi qua điện thoại.

Jeff chui ra khỏi cửa sập, nhìn xung quanh. Bên trong xe lán đầy áp bàn ghế và đồ đạc. Nhưng mọi thứ được sắp xếp ngăn nắp. Ngoài bàn làm việc, ghế, tập hồ sơ, Jeff thấy có kính hiển vi và nhiều dụng cụ điện tử khác mà Hannibal đã chế tạo để phục vụ cho công cuộc điều tra.

- Anh nghĩ em làm đúng! - Hannibal nói thêm trong máy điện thoại - Bọn anh sẽ làm tất cả những gì trong khả năng mình. Em hãy khóa hết cửa thật kín và chờ bọn anh. Hannibal gác máy xuống.

- Có chuyện gì vậy? - Peter hỏi.

Hanniabl quay sang Jeff.

- May gọi!? - Hannibal giải thích - Cách đây khoảng 15 phút, khi đi chợ về, bà ngoại cậu và May đang lên lầu 1 thì nghe thấy tiếng cười trong thư phòng. Bà và May bắt đầu bước trở xuống. Khi đi đến nữa cầu thang, đã có thể nhìn vào thư phòng. Bà và May nhìn thấy 1 người đàn ông trong gương. Mặt ông tái mét, tóc dài bạc trắng và mắt xanh lá cây sáng.

- Chiavo! - Jeff thốt lên.

- Bà Darnley quyết định làm cho rõ việc này... và bà đã chọn Ba Thám Tử Trẻ để tiến hành cuộc điều tra. Ta sẽ nhờ Warrington đến chở ta đi ngay!
 
Ðề: Truyện ma có thật, anh em đóng góp thêm nhé (nhiều tác giả)

5. Cảnh cáo

Không đầy nữa tiếng sau, Warrington đến Thiên Ðường Ðồ Cổ. Bốn cậu leo lên chiếc xe Rolls. Xe chạy nhanh về hướng Hollywood theo giới hạn cho phép của luật đi đường. Khi cho hành khách xuống trước cửa nhà bà Darnley, Warrington nói:

- Tôi phải mang xe về hãng ngay, nhưng sau đó tôi sẽ đi thẳng về nhà. Các cậu biết số điện thoại của tôi rồi. Nếu cần gì, cứ gọi nhé!

Ba thám tử trẻ cám ơn bác tài, rồi bước theo Jeff. Cánh cửa mở ra trước khi Jeff kịp bấm chuông. May đang chờ mọi người về.

Bốn bạn thấy bà Darnley đang ngồi thẳng người trên ghế trong tiền sảnh, mắt nhìn thẳng vào bóng tối thư phòng.

Trông bà tái xanh, nhưng nét mặt cương quyết. Bà không động đậy khi Mayt khép cửa lại.

- Tôi không đủ can đảm bước vào trong đó - Bà nói nhưng không quay đầu lại - Nhưng ít nhất tôi bảo đảm rằng không có ai bước ra khỏi phòng.

- Vậy là từ lúc thấy bóng người trong gương, bà canh giữ của này à? - Hannibal hỏi.

- Tôi không rời mắt khỏi cửa 1 giây! - Bà khẳng định.

Bà đưa tay lên mái tóc. Ba thám tử thấy tay bà hơi run.

- Em gọi cácc anh - May giải thích - Rồi em mang ghế đến cho bà. Sau đó em đi đóng kín hết mọi cửa và cửa số trong nhà.

- Anh John đâu? - Peter hỏi.

- Hôm nay là ngày nghỉ của anh ấy.

- Vậy là khi em đi chợ với bà, nhà hoàn toàn trống không, không có người à? - Hannibal hỏi.

- Không có người nhưng cửa đều khóa. Cửa có ổ khóa to chắc, còn cửa sổ đều có song sắt, anh phải nhớ như vậy. Và không thấy dấu vết bẻ khóa, cạy cửa. Không ai vào được. Không 1 ai. Em chắc chắn là đã kiểm tra khóa trước khi đi. Anh John đi cùng lúc với em và bà. Bà cũng kiểm tra nữa.

- Phải - Bà Darnley xác nhận, mắt vẫn nhìn chằm chằm vào thư phòng.

- Hay là anh John có quay lại và khóa cửa không chắc? - Hannibal hỏi thêm.

- Chắc chắn là anh John chưa về. Hôm nay nhiều sinh viên khóa học ghita của anh ấy có buổi hòa nhạc ở Ebell Club. Anh John biểu diễn đầu tiên. Trên đường đi, bà đưa anh ấy đến tận cổng câu lạc bộ.

Hannibal dũng cảm bước vào thư phòng. Bà Darnley phân vân 1 hồi, rồi đứng dậy bước vào theo.

Căn phòng gần như tối thui. Bên ngoài, mặt trời đã biến mất sau những đám mây to, còn bên trong, có những bức rèm dày che kín cửa sổ. Thám tử trưởng mơ hồ nhìn thấy ảnh mình trong gương.

Hannibal bật sáng 1 cái đèn đặt trên bàn, nhìn xung quanh. Bob và Peter cũng vào theo.May bước đến ngưỡng cửa. Thư phòng vẫn y như cách đó 1 tuần lễ, khi 2 thám tử và chú Titus tham quan. Mọi vật đều nằm đâu đấy.

- May ơi! - Hannibal hỏi - Khi thấy người trong gương, em đứng chính xác chỗ nào? Em có thể chì chỗ cho anh xem được không?

- Tất nhiên!

Mat quay ra, leo lên thang lầu đến 1 độ cao nào đó. Khi đó, May quay lại, đứng yên, nhìn xuống dưới.

- Em đứng chỗ này - May giải thích - Còn bà đang ngồi trước em cách 1 -2 bậc thềm.

- Ðược rồi. Em hãy đứng yên ở đó!

Hannibal lùi lại góc xa nhất trong căn phòng, không rời mắt khỏi gương. Khi đến 1 khoảng cách có thể nhìn thấy May trong gương, Hannibal hỏi:

- May ơi, có thấy anh không?

- Thấy - May đáp - Thấy rõ lắm.

- Có lẽ chuyện đã xảy ra như thế này đây, - Hannibal giải thích với bà Darnley. Nếu có ai đó đứng ở góc mà cháu hiện đứng, bắt buộc bà sẽ thấy hình ảnh của người đó trong gương khi bà bước xuống thang lầu. Và bà đã tin là có ma. Căn phòng này tương đối tối, rèm che kín ánh sáng. Người đàn ông hiện lên có rõ hay không?

Bà Darnley nhắm mắt lại như để nhớ cho kỹ hơn.

- Phải, rất rõ, - cuối cùng bà nói. Thật ra... dường như ông ấy sáng lên 1 cách lạ lùng.

- Cửa vào mật! - Bob kêu đột ngột - Chỉ có thể vậy thôi! Chắc là phải có cửa mật trong căn phòng này!

- Trừ phi... đó là ma thật! - Peter rùng mình khẽ nói.

Cùng với Jeff, 2 thám tử tiến hành thám hiểm thư phòng ngay. Peter và Jeff kéo thảm ra, xem xét sàn nhà, thậm chí còn dùng lưỡi dao đâm vào giữa ván sàn gỗ. Bob và Hannibal lấy hết sách ra khỏi kệ và gõ dò tường.

- Không có chỗ nào bọng - Cuối cùng Bob thở dài.

Hannibal nhíu mày. Thám tử trưởng chỉ vách tường đối diện với tường có treo gương, hỏi bà Darnley:

- Phòng bên kia là phòng gì ạ?

- Không là phòng. Bức tường này là tường ngoài. Nhà xây trên sườn đồi. Thật ra phần dưới của vách tường này nằm dưới đất. Vì vậy mà không có cửa sổ vào. Vách tường phía Bắc của phòng khách cũng không có cửa sổ, vì cùng 1 lý do.

Cho đến nay, Hannibal không ngờ ngôi nhà rộng lớn, với những gian phòng mênh mông, được xây dựng lạ lùng như thế nào.

- Hừm! Hannibal vừa kêu vừa véo môi dưới. Hừm! Hannibal kêu nữa và gõ tường. Lạ thật! Trừ phi... ngược lại...

Chuông cửa ngắt lời thám tử trưởng, làm mọi người giật mình.

- Bà ơi, để con ra mở! - May nói.

Bà Darnley và 4 cậu nghe tiếng khóa mở ra và tiếng thốt lên:

- ồ! Chú đấy à!

Ngay sau đó, ông Santora bước vào thư phòng. May đi theo sau giận dữ phản đối:
 
Ðề: Truyện ma có thật, anh em đóng góp thêm nhé (nhiều tác giả)

- Cháu chưa mời chú vào nhà mà!

Khi thấy 3 thám tử trẻ, người mới đến trừng mắt nhìn 3 cậu. Rồi ông thấy thảm được cuộn lại 1 bên, sách chất đầy dưới đất.

- à! - ông kêu 1 tiếng.

Hannibal có cảm giác là giọng nói pha chút gì hài lòng.

- Ông đến để thông báo cho chúng tôi 1 cái gì đó đặc biệt à? - Bà Darnley hỏi.

- Tôi đến để kiểm tra xem tấm gương của tôi có được an toàn không. Tôi vẫn đang chờ người ta gởi giấy tờ từ Tây Ban Nha sang. à, mà này... ở đây có chuyện gì xảy ra à? Dường như mọi người có điều gì không hay?

- Không có chuyện gì xảy ra hết, - Bà Darnley hết sức thản nhiên tuyên bố.

- Bà đã thấy 1 cái gì đó - Santora vẫn nói - Tôi nghĩ Chiavo đã hiện ra trước mắt bà. Senora, tôi khuyên bà đừng đùa với lửa nữa. Nếu không, bà có thể sẽ hối tiếc đấy. Khi Chiavo xuất hiện, thì có nghĩa là lời cảnh cáo. Bà hãy cho phép tôi mang tấm gươngnày đi.

- Tôi chỉ cho phép khi nào ông chứng minh được rằng ông là chủ nhân hợp pháp.

- Tuỳ bà.

Ông Santora lấy quyển sổ tay ra khỏi túi, dùng cây viết viết vài chữ, xé trang sổ đưa cho bà Darnley.

- Nếu bà đổi ý, xin bà cứ gọi điện thoại đến khách sạn cho tôi - Ông nói - Phòng bà quên, tôi xin nhắc rằng tôi ở khách sạn Beverly Sunset. Tôi ghi số điện thoại ở đây.

Ông cúi chào, rồi ra về. May đóng cánh cửa nặng lại.

- Ông ấy biết! - Bà Darnlay thở dài - Ông ấy biết ta đã thấy hình ảnh khủng khiếp trong gương. Nhưng làm sao ông ấy biết được?

- Hoặc ông ấy biết, hoặc ông ấy đoán - Hannibal gợi ý - Chắc là ông ấy nghi khi thấy căn phòng này lộn xộn. Không cần phải phù thủy... giống Chiavo.

Bà Darnley nhìn trang sổ đang cầm trong tay.

- Ông Santora ở khách sạn khá sang trọng - Bà nhận xét - Nỗi đam mê tấm gương này tốn nhiều tiền cho ông quá. Tôi biết giá phòng ở khách sạn Beverly Sunset. Bà bạn Emily Stonehurst của tôi ở đó.

- Cháu biết chỗ - Hannibal nói - Khách sạn ở phía nam đại lộ Sunset, phải không ạ?

- Ðúng. Ngay góc đại lộ với Rosewood.

Hannibal đột nhiên ra vẻ chỉ huy.

- Bob! Peter! - Thám tử trưởng gọi - Chú Warrington có cho biết là chú ở nhà, nếu ta cần chú giúp. Các cậu hãy gọi điện thoại nhờ chú đến bằng xe riêng. Chú sẽ chở các cậu đến khách sạn của ông Santora, ở đó các cậu sẽ theo dõi kẻ bị tình nghi của ta. Do có 2 cửa vào, cửa chính và cửa sau, nên phải đi 2 người.

- Tuân lệnh sếp! Mình rất thích được ra ngoài thở không khí trong lành 1 chút! - Peter vô tư thú nhận.

Bob, vốn ngoan, nhắc ngay:

- Nhớ phải báo về nhà rằng bọn mình có thể về trễ tối nay.

Rồi Bob gọi điện về nhà để báo không phải chờ cơm. Bob hỏi thêm:

- Babal ơi, cậu định làm gì khi bọn mình đi vắng?

Hannibal nhìn tấm gương yêu tinh và căn phòng bừa bộn.

- Jeff và mình sẽ sắp xếp sách vở lại - Hannibal giải thích - Rồi chờ các cậu về. Mình muốn biết xem con ma Chiavo có hiện hình trong khi các cậu theo dõi Santora không.
 
Ðề: Truyện ma có thật, anh em đóng góp thêm nhé (nhiều tác giả)

6. PETER gặp rắc rối

Trên đường Beverly Hills, Peter, Bob và Warrington dừng lại để ăn lót bụng. Khi bước ra khỏi quán, trời đã tối sẫm lại. Khi đến khách sạn ở góc đại lộ Sunset, trời tối hẳn. Tòa nhà bằng gạch đỏ chỉ cao có 4 tầng, nhưng rất sang trọng.

- Phải dư tiền lắm mới dám ở đây! - Peter kêu.

Warrington đậu chiếc xe Ford khiêm tốn dọc theo lề đường đối diện khách sạn.

- Phải - Warrington nói với Peter - Chỗ này sang lắm. Tôi có đưa nhiều khách đến đây. Không phải khách sạn tầm thường cho doanh nhân. Chủ yếu là khách ngoại quốc. Có 1 số người thường trú ở đó. Họ thích vậy hơn là nhà riêng.

- Ta có thể kết luận rằng ông Santora không thiếu tiền - Bob nói.

- A! Ông ra kìa! _ Ptere thông báo.

Thu mình trong xe, cả 3 nhìn theo ông khách Tây Ban Nha đang bước ra khỏi khách sạn. Santora đứng yên 1 hồi trên lề đường, mắt nhìn lên bầu trời sắp bão, lắng nghe sấm sét xa xa. Rồi ông đút tay vào túi áo, lên đường như 1 người dạo chơi.

Warrington nhíu mày.

- Kìa! Hắn lại đi xuống đại lộ. Tôi có phải quay đầu xe theo hắn không? Như vậy có thể làm cho ta bị lộ.

- Chờ 1 chút đi - Bob nói - Ông ấy không đi nhanh.

Santora đứng lại 1 hồi để ngắm cửa kính tiệm bán hoa. Rồi từ từ bước đi tiếp, lại dừng trước 1 cửa hàng bán đồ mỹ nghệ, và quyết định vào.

- Dường như ông ấy không đi đâu hết - Peter nói - Theo mình, ông ấy chỉ muốn giết thời gian thôi.

- ?! Nhìn kìa! - Bob đột nhiên la lên - Ðằng kia! Trong góc!

Một người đàn ông mảnh khảnh, mặc đồ sậm, vừa mới xuất hiện ở góc đại lộ và đang bước nhanh đến cửa vào khách sạn.

- Tên trộm! - Peter thốt lên.

- Phải, đúng hắn! - Warrington vừa nói vừa ra vẻ muốn xuống xe.

- Khoan đã, chú Warrington ơi! - Peter nói nhanh - Ðừng hấp tấp. Có thể đây là cơ hội duy nhất để tìm hiểu gì đang xảy ra.

- Tên này tội phạm mà! - Bác tài phản đối? - Hắn đã đột nhập vào nhà bà Darnley.

- Cháu biết, cháu biết. Và bà Darnley nghĩ có thể hắn là người của Santora... giống như trợ lý của ông Santora. Vậy mà sau khi có hình ảnh lạ lùng hiện lên trong gương, ta lại gặp người này gần khách sạn. Ðể cháu suy nghĩ xem.

Peter nhăn trán đắm mình vào suy nghĩ vài giây. Rồi Peter thở dài mở cửa xe ra.

- Cậu định làm gì vậy? - Bob hỏi.

- Ði theo hắn! - Peter đáp - Biết làm gì khác nữa? Nếu Santora và háăn đồng lõa, thì ta phải tìm cách biết chắc.

- Nếu bọn chúng quyết định gặp nhau trong cửa hàng mỹ nghệ kia, thì cậu phải cẩn thận đấy. Cả 2 đều biết mặt cậu. Cậu phải đừng để bị thấy mặt.

- Tên trộm này nguy hiểm! - Warrington nói thêm - Cậu Peter phải thận trọng nhé!

Trông Peter không hăng hái lắm.

- Cháu biết - Peter thở dài - Ðừng lo, cháu sẽ thận trọng.

Peter bước ra khỏi xe, núp sau xe, nhìn phía bên kia đại lộ. Tên trộm nhỏ bé bước tới, mắt nhìn xuống đất và không hề nghĩ đến việc nhìn sang lề bên kia đường. Peter nhẹ nhõm thấy hắn bước ngang qua cửa hàng mỹ nghệ mà không dừng lại, rồi đi vào khách sạn.

Peter lợi dụng đèn xanh để băng qua đường thật nhanh. Ðến lượt Peter bước về hướng khách sạn, cằm ngẩng cao, huýt sáo tự nhiên, như đang không có mối lo âu nào trong đầu. Peter bước qua cửa khách sạn, theo dấu vết con mồi.

Peter phát hiện ngay kẻ đang theo dõi. Tên trộm đang nói chuyện với nhân viên tiếp tân.

Peter đoán xem Hannibal sẽ làm gì trong trường hợp như thế và quyết định rằng có lẽ thám tử trưởng sẽ cố nghe được cuộc đối thoại giữa tên trộm và nhân viên tiếp tân. Thế là Peter lặng lẽ tiến đến gần quầy. Khi chỉ còn cách quầy vài bước, Peter cúi xuống như để cột lại dây giày.

- Tôi rất tiếc, thưa ông - Nhân viên tiếp tân nói - Ông Santora không có trong phòng. Ông ấy vừa mới ra ngoài.

- Thôi vậy! - Gã đàn ông nhỏ bé nói - Tôi sẽ để lại lời nhắn. Anh có giấy không?

- Tất nhiên, thưa ông.

Peter ngước mắt lên, nhưng vẫn táy máy chiếc giày. Gã đàn ông nhỏ bé da sậm vẫn đứng bên quầy, quay lưng lại với Peter. Khi viết xong, ông đưa tờ giấy cho nhân viên tiếp tân, anh nhân viên cho vào phong bì và đặt vào ngăn mang số tương ứng với số phòng: 426.
 
Ðề: Truyện ma có thật, anh em đóng góp thêm nhé (nhiều tác giả)

Làm xong, anh nhân viên quay sang người đàn ông da nâu, gương mày lên, như để hỏi xem khách có cần gì nữa không.

- Anh đừng quên bức thư này nhé, quan trọng lắm.

- Ông yên tâm. Tôi sẽ chờ canh ông Santora về.

Ðiện thoại lại reo.

- Xin lỗi ông - Nhân viên tiếp tân nói.

Anh ta nhắc máy lên và tập trung nói chuyện. Gã đàn ông nhỏ lợi dụng bỏ đi 1 cách tự nhiên và kín đáo quẹo vào góc hành lang dẫn đến thang máy.

Vài giây sau, Peter nghe tiếng cửa thang máy mở ra, và tiếng ù ù của thang máy chạy. Vậy là khách không tin tưởng anh nhân viên tiếp tân. Trừ phi... Peter đột ngột hiểu ra rằng lời nhắn tin lại chỉ là cái mẹo... mánh khóe để biết được số phòng ông Santora bằng cách buộc nhân viên tiếp tân đặt 1 cái gì đó trong ô thư của ông khách Tây Ban Nha. Nếu vậy....

Peter chỉ phân vân 1 giây. Cậu đứng thẳng người dậy, bước từ từ qua quầy tiếp tân, rồi quẹo vào hành lang có thang máy. Có 2 thang máy tất cả. Và 1 cầu thang bộ. Thám tử đứng yên 1 hồi. Rồi cố gắng gây thật ít tiếng động, Peter bước nhanh lên cầu thang bộ, bước từng 2 bậc thềm 1.

Ðến lầu 4, Peter dừng ở thềm nghỉ, nhìn xung quanh. Trước mặt Peter là 1 hành lang rộng, cũng tiện nghi y như ở tầng trệt. ở đó, dọc theo tường, cũng có những cái bàn thấp nhỏ, với bình hoa tươi, rồi toàn là cửa, cửa và cửa. Nhưng Peter không thấy dấu vết gã đàn ông nhỏ da nâu ở đâu hết.

Peter đi tiếp. Cậu rón rén đến phòng mang số 426. Tim đập thình thịch. Peter tự đặt trong đầu hàng ngàn câu hỏi. Tên trộm có đang ở trong phòng của Santora không? Hắn có định lấy cắp cái gì không? Hay hắn chỉ chờ ông khách Tây Ban Nha về? Phần mình, Peter có nên báo động không?

Một lần nữa, Peter nhìn xung quanh. Không thấy ai hết, và không có bóng máy điện thoại nữa. Chỉ có thảm dày, bàn hoa và cửa khép kín. Có nên xuống quầy tiếp tân thật nhanh và báo cho nhân viên ở đó biết không?

Một lần nữa, Peter thử nghĩ xem Hannibal sẽ có thái độ thế nào ở địa vị mình. Babal có xuống quầy tiếp tân không? Không, Peter quyết định. Có lẽ Hannibal sẽ ở lại để xem chuyện gì xảy ra. Nếu tên trộm bỏ đi trước khi Santora về, thì vẫn còn kịp chuồn. Còn nếu, trái lại, ông khách Tây Ban Nha quay về trước khi tên trộm đi, thì sẽ có nhiều điều thú vị để quan sát hay phát hiện.

Tuy nhiên, thám tử trẻ không thể đứng mãi trong hành lang. Nếu 1 trong những cánh cửa mở ra, nếu 1 khách ở nhìn thấy Peter lãng vãng ở đây, thì chắc chắn người ta sẽ hỏi. Nhưng biết trốn ở đâu đây?

Gần như đối diện với phòng của Santora có 1 cánh cửa không mang số. Peter nhẹ nhành xoay thử tay cầm. Cửa mở ra. Mùi xi đánh bóng và giẻ ướt bay đến mũi Peter: đó là tủ cất chổi quét, giẻ và đồ làm vệ sinh phòng ngủ. Peter mỉm cười:

- Mình may quá! - Peter nói khẽ.

Peter chui vào tủ, cẩn thận không đụng vào chổi và cây chùi nhà xếp đứng dọc theo tường, cố không vấp phải máy hút bụi. Rồi Peter khép cửa lại, chừa khe hở thật nhỏ để nhìn. Tựa lưng vào kệ chất đầy hóa chất chùi rửa, Peter bắt đầu canh gác. Từ chỗ trốn, Peter thấy rõ cửa phòng Santora. Thậm chí nếu có ai mở cửa phòng, Peter có thể thấy được bên trong phòng nữa.

Thế là Peter đứng yên chờ đợi. Tiếng sấm vang từ bên ngoài.

Ðột nhiên, ở cuối hành lang, có tiến ù ù của thang máy. Phòng thang máy dừng lại. Peter nghe tiếng cửa luồng mở ra. Có tiếng chân bước nhẹ trên thảm. Một người đàn ông đang bước tới. Peter nghe ông nói 1 cái gì đó bằng tiếng Tây Ban Nha thật khẽ. Rồi ông Santora đi ngang qua tủ cất đồ làm vệ sinh, dừng lại trước phòng 426 và đút chìa khóa vào ổ.

Peter hé cửa rộng thêm 1 chút và cúi ra phía trước: Peter cương quyết sẽ thấy tất cả những gì sẽ xảy ra.

Santora thốt lên 1 tiếng khẽ ngạc nhiên, xoay chìa khóa 2 vòng và mở lớn cửa phòng ra. Ông bước vào phòng, đóng cửa lại phía sau lưng.

Peter chui ra khỏi chỗ trốn, băng qua hành lang và chuẩn bị áp tai vào cánh cửa phòng 426, thì cậu sửng sốt dừng lại. Peter vừa mới nghe tiếng đập, tiếp theo là 1 tiếng khác: tiếng vật nặng ngã xuống!

Cửa phòng Santora đột ngột mở ra. Trong giây khắc, Peter và tên trộm đứng đối mặt nhau.

- Mày! - Gã đàn ông nhỏ bé gầm gừ.

Rồi hắn lao vào Peter.

Peter tránh ra thật nhanh. Tên trộm hụt Peter, đụng đầu vào tường phía bên kia hành lang. Hắn nảy ra và lao như điên về cầu thang. Tay hắn đang cầm 1 cái gì đó màu trắng.

Peter phản ứng ngay. Cậu nhào tới, chụp 2 cổ chân tên trộm. Hắn ngã nằn dài, mặt úp xuống thảm. Hắn vung tay, đá chân ngọ nguậy, lật người lên được và cuối cùng đấm vào trán Peter.

Peter choáng váng, thả vòng tay ra. Ðối thủ lợi dụng ngồi dậy và bỏ chạy. Khi đứng dậy, Peter vẫn còn run. Cậu tựa vào tường. Dần dần mắt và đầu óc Peter sáng lại. Khi đó cậu thấy vật trắng mà tên trộm bỏ rơi trong khi vật lộn: tờ giấy trắng vò nhăn. Peter máy móc lượm lên, cho vào túi.

Peter bước chậm đến phòng. Cửa vẫn mở, cho phép Peter thấy ông Santora đang nằm dài dưới thảm. Máu chảy từ sau tai đến cổ, làm dính áo sơ mi trắng.

Peter hoảng hốt bước vào phòng, quỳ xuống cạnh người bị thương. Peter thử bắt mạch ông. Peter nhẹ nhõm thấy mạch đập nhẹ. Có thể ông khách Tây Ban Nha bị thương nặng, nhưng vẫn còn sống.

Thám tử đứng dậy. Trên bàn viết, đầy giấy tờ từ 1 tập tài liệu bị lục soát, Peter thấy máy điện thoại. Cậu nhấc ống nghe.

- Alô! Tiếp tân nghe đây! - Giọng nhân viên tiếp tân trả lời ngay.

- Ông Santora bị thương, Peter giải thích vắn tắt. Xin anh báo cảnh sát và bác sĩ ngay. Nhanh!

Trước khi nhân viên tiếp tân chưng hửng kịp trả lời, Peter gác máy xuống. Cậu bước qua người ông Santora, lao ra hành lang, rồi xuống cầu thang. Peter nghe thang máy đang lên. Cậu đi ra tiền sảnh, cố bước tự nhiên và từ tốn, không tỏ ra hấp tấp. Khi đi qua, Peter ghi nhận mọi thứ đều bình lặng. Nhưng nhân viên tiếp tân đã rời khỏi quầy.

Peter ra đến đại lộ. Bây giờ, trời đã tối hẳn và bắt đầu mưa lấm tấm. Tiếng sấm vẫn gầm gừ và tia sét chiếu sáng ngọn đồi xung quanh. Khi đèn chuyển sang màu xanh, Peter chạy băng qua đường, bước nhanh đến chiếc xe Ford nhỏ, nơi Warrington và Bob đang chờ. Peter mở cửa xe, trốn nhanh vào trong.

- Sao? - Bob hỏi - Chuyện gì xảy ra vậy? Mình thấy Santora bước vào khách sạn. Ông ấy có gặp tên trộm không?

Peter không trả lời ngay. Cậu vẫn nhìn xuống dưới và đang run rẩy toàn thân.

- Cậu làm sao thế? - Bob hoảng sợ hỏi.

- Cậu và chú Warrington có ... có thấy tên trộm đi ra không? - Peter hỏi lại thay vì trả lời.

- Không thấy. Không phải hắn đang ở với Santora à?

Peter lắc đầu.

- Mình ... mình đã báo cho nhân viên tiếp tân... - Peter cà lăm giải thích - Tên trộm nhỏ bé kia... chắc hắn đã trốn qua cửa sau.

Cách nói chuyện đứt đoạn khó hiểu làm cho Warrington lo sợ.

- Kìa, cậu Peter! Cậu hãy bình tĩnh kể lại chuyện đã xảy ra đi.

Ðúng giây phút đó, tiếng còi hụ xe cảnh sát vang lên. Xe đang tìm đường giữa dòng xe đông và đến đậu ngay trước khách sạn.

- Tên trộm định giết Santora - Peter giải thích - Hắn đánh Santora rất mạnh. Mình không ở lại chờ. Mình... không thể được. ý mình nói... sẽ không hay chút nào nếu mình bị bắt trong cái phòng đó. Santora nằm đó... trong vũng máu.
 
Ðề: Truyện ma có thật, anh em đóng góp thêm nhé (nhiều tác giả)

7. Con ma trong tấm gương

Sau khi Bob và Peter đi rồi, Hannibal không ngồi không. Thám tử trưởng đi khắp ngôi nhà rộng lớn của bà Darnley, kiểm tra xem cửa có khóa chặt không và xem song sắt cửa sổ còn nguyên vẹn không.

Tiếng sấm vang lên, xa dần về hướng bắc. Một hình ảnh mới hiện ra bên cạnh hình của Hannibal trong tấm gương yêu tinh. Ðó là Jeff Parkinson.

- Hôm nay, đêm sẽ xuống nhanh - Jeff nói khẽ.

- Phải - Hannibal nói - Trừ phi gió xua đuổi mây đi.

Nét mặt Jeff hơi căng thẳng. Rõ ràng Jeff cố gắng để nói những lời trò chuyện bình thường.

- Mình cứ tưởng vào mùa hè ở Californie không có mưa mà?

- Ðúng là hiếm khi mưa lắm.

- Bà ngoại bảo cậu rằng bữa ăn tối sắp xong rồi. Ta sẽ dùng cơm tối trong nhà bếp. ở đó không có gương. Hình như tạm thời bà ngán gương rồi.

Hannibal thích thú được rời khỏi thư phòng, bước ra theo Jeff. Cả 2 bước vào nhà bếp rộng lớn, sáng sủa. Sáng hôm nay, John Chan mới về. Một cái tủ nặng được lôi trước cửa nối liền nhà bếp với nhà xe.

Khi đi chợ về cùng May, bà Darnley mặc bộ đồ mùa hè. Bây giờ bà đã thay 1 cái quần và áo sơ mi, tuy giản dị, nhưng rõ ràng là rất đắc tiền. Bà đã búi mái tóc bạc ra sau ót.

- ở đây, ta sẽ không thấy con ma nào - Bà khẳng định.

Bà đặt đĩa trứng chiên lên bàn, rồi nói thêm:

- Tôi rất vui là John đã cương quyết không cho tôi treo gương trong nhà bếp.

- Bà chỉ thấy ma trong 1 tấm gương duy nhất mà! - Hannibal nhắc lại - Gương Chiavo.

Bà ngồi xuống thở dài. Lúc này, trông bà già đi và mệt mỏi... hơi bối rối nữa.

- Ðôi khi, tôi cảm tưởng như tất cả những tấm gương của tôi đều có ma, - Bà nói. - Khi chỉ còn 1 mình, khi May và Jeff không có ở đây, nhiều khi tôi cảm tưởng như chính tôi cũng là ma.

Ðột nhiên, Hannibal cảm thấy lo sợ. Có bao giờ bà Darnley quá quen thuộc với thế giới hình ảnh phản chiếu đến nỗi bà đã thoát khỏi thực tế của thế giới bên ngoài không?

Hannibal nhanh miệng hỏi

- Thưa bà, trước ngày hôm nay, bà chưa bao giờ thấy ma trong bất kỳ tấm gương nào của bà đúng không ạ?

Bà Darnley nhìn Hannibal. Nét mặt bà, từ trước đến giờ mơ mộng đăm chiêu, đột ngột thay đổi. Bà như trở về với thế giới thực. Bà mỉm cười trả lời:

- Không, Hannibal à, chưa bao giờ. Nhưng trong ngôi nhà này, tôi nhìn thấy mình đi qua đi lại nhiều hơn cần thiết và tôi còn cho rằng tôi nghĩ quá nhiều đến những nhân vật đã từng soi vào những tấm gương này... những nhân vật thường có cái chết bi thảm. Tuy nhiên, tôi chưa bao giờ bị ảo giác. Hôm nay là lân đầu tiên tôi thấy ma trong gương.

- Ðược! - Hannibal tán thành. - Nếu vậy, ta chỉ cần chú ý đến 1 mình tấm gương Chiavo.... Nghe đây! Hoặc tấm gương đó thật sự có ma, hoặc có cách nào đó để vào ngôi nhà này, mà ta chưa tìm ra, hoặc có ai đó trốn ở đây, mà ta chưa biết cách tìm. Nhất định phải là 1 trong 3 giả thuyết này

Bà Darnley gật đầu khẽ đồng tình với lời nói của thám tử trưởng.

- Phải, cậu nói đúng - Bà nói.

Hanniabl nói tiếp:

- Phần lớn những tiếng động khả nghi mà bà đã nghe thấy tuần này đã vang lên vào ban đêm, đúng không?

- Ðúng - Bà nói nữa - Lần đầu tiên tôi thấy con ma.

Hannibal ngồi thẳng người lại trên ghế.

- Vậy là bà có thấy trước rồi à? - Thám tử trưởng sửng sốt kêu.

- Tôi thấy tối hôm qua, bà thừa nhận. Lúc đó trễ lắm rồi. Tôi nghe tiếng Jeff và John đi lại dưới nhà. Khi cả 2 về phòng, tôi không ngủ lại được. Cuối cùng, 1 hồi lâu sau, tôi nghe tiếng ai đó bước trong tiền sảnh. Tôi dậy, Tôi biết là không phải Jeff.... Tôi luôn nghe Jeff mở cửa phòng,mặc dù Jeff cố không gây tiếng động. Tôi cũng biết là không phải John. Tôi biết tiếng bước của John. Nên tôi khoác áo và bước ra thềm nghỉ, không bật đèn. Nhà tối, nhưng tôi vẫn thấy được mọi đồ vật. Tôi tiến đến những bậc thềm trên cao và tôi nhìn xuống dưới, xuống tiền sảnh. Không có ai hết, nhưng tôi nghe tiếng động... 1 thứ tiếng khủng khiếp, giống như tiếng cười man dại. Từ thư phòng. Tôi bước tiếp xuống, thất nhẹ nhàng. Rồi đột nhiên... thì... tôi thấy cái mà lúc chiều May và tôi nhìn thấy... 1 khuôn mặt. Khuôn mặt khủng khiếp trong gương.

- Chiều nay - Hannibal nhận xét - Trong thư phòng rất tối, do màn cửa số đều léo kín. Nhưng tối hôm qua, chắc là phải tối hơn nữa.

- Tối hoàn toàn - Bà Darnley khẳng định - Tuy vậy, tôi thấy khuôn mặt rất rõ.

- Bà ơi, - Jeff hỏi - Sao bà không nói gì hết? con ở gần đó mà. Sao bà không báo cho con hay?

- Bởi vì bà không tin mà! - Bà Darnley giải thích - Bà không muốn thừa nhận là bà đã nhìn thấy ma. Nhưng trong ngày, khi chính May cũng nhìn thấy... bà không thể phủ nhận sự hiển nhiên ấy nữa.

- Thôi, cháu đề nghị thế này - Hannibal nói - Tất cả chúng ta sẽ leo lên lầu. Thật sớm. Ngay bây giờ. Trên kia có truyền hình không?... Có à? Hay quá! Ta sẽ xem truyền hình.

- Tất cả mọi người à? - May hỏi.

- Hầu như tất cả! Ta sẽ tắt đèn tiền sảnh, nhưng anh sẽ ngồi lại trên cầu thang, ờ nơi mà chính em và bà đang đứng khi thấy con ma. Có thể, khi trong nhà bình lặng trở lại, hình ảnh Chiavo sẽ tái xuất hiện. Có thể ta sẽ hiểu ra làm cách nào nó hiện lên trong tấm gương.

ý kiến nghe có vẻ hay. Ngay sau khi ăn tối xong, May, Jeff và bà Darnley leo lên lầu. Bà Darnley lớn tiếng hỏi Hannibal xem cậu muốn xem chương trình truyền hình nào.

Khi đèn tiền sảnh đã tắt hết, Hannibal lẳng lặng ra vị trí canh gác, ngay giữa cầu thang, đối diện với thư phòng mở cửa.

Suốt khoảng nửa tiếng, thám tử trưởng không nghe thấy gì khác ngoài tiếng bão gầm gừ, tiếng nói và tiếng cười từ truyền hình. Thỉnh thoảng tiếng sấm vang lên, khi xa, khi gần. Hannibal vẫn chờ, mắt dán vào căn phòng tối om, không dám lơ là 1 giây. Cuối cùng, Hannibal nghe thấy tiếng động khẽ ngay phía dưới... thật ra tiếng ấy khẽ đến nỗi Hanniabl không biết mình có nghe nhầm không. Giống như tiếng rên thật khẽ... hoặc tiếng kêu bị át đi. Hay là gổ kêu rắc do nhiệt độ giảm xuống? Hay là 1 cái gì khác nữa? Có phải Hannibal có cảm giác như có sự dịch chuyển trong bóng tối?

Ðột nhiên, thám tử trưởng nghe 1 tiếng gì đó.

Hannibal giật mình. Lần này không thể nhầm lẫn được. Một tiếng điếc, giống như ai đó để rơi 1 vật... hay giậm chân.

Trong bóng tối, Hannibal mở căng mắt. Nhưng cậu không thấy gì, ngoài đường nét mơ hồ của khung cửa thư phòng, 1 hình chữ nhật màu sậm trên nền tường đen. Xa hơn, không thấy gì khác.

Ðột nhiên, ai đó cười. Thường Hannibal không hoảng sợ dễ dàng. Nhưng cậu vẫn rùng mình. Tiếng cười? thật khủng khiếp, chế giễu, như tiếng cười của kẻ khùng điên. ánh sáng xanh xanh đâm thủng bóng đen trong thư phòng, đột ngột đến nỗi Hannibal chớp mắt. Rồi thám tử trưởng tự buộc mình mở to mắt ra, nhìn vào gian phòng... đếm tấm gương. Mắt Hannibal gặp phải ánh nhìn của con ma.

Máu thám tử trưởng như muốn đông lại trong mạch. Khi Hannibal lặng người, khiếp sợ, thì hình ảnh trong gương đột ngột biến mất. Thám tử trưởng dụi mắt, không dám tin cái mình đã thấy: mái tóc trắng rối bù xù như mớ rong tảo xung quanh 1 khuôn mặt trắng bệch hơn cả phấn, tái mét hơn mặt người chết, nhưng đồng thời sáng lên như được chiếu sáng 1 cách siêu tự nhiên. Còn đôi mắt... 2 con mắt to tướng, màu xanh lá, sáng rực... chứa chan 1 sự mỉa mai dã man.

Phía trên lầu, cửa phòng có truyền hình đột ngột mở ra.

Nhưng Hannibal hầu như không hay biết. Một lần nữa, thám tử trưởng nghe tiếng cười vang lên như để thách thức. Một lần nữa, cậu nhìn thấy ánh sáng xanh xanh chiếu sáng khuôn mặt quái dị trong tấm gương!

Lần này, Hannibal nhảy phóc dậy, chạy nhanh xuớng cầu thang. Ðột nhiên, vật khủng khiếp trong gương biến mất lần thứ 2. Màn đen khép kín lại trên hình ảnh quái dị, trong khi tiếng cười chế giễu vang lên nữa, nhưng nhỏ dần và cuối cùng tắt hẳn.

Hannibal trượt nhanh qua tiền sảnh, lao vào thư phòng. Hannibal hấp tấp tìm công tắc đèn. Khi tìm thấy, ánh sáng tràn ngập gian phòng.

Gian phòng trống không. Và chỉ có 1 hình ảnh đang nhìn Hannibal từ đáy gương yêu tinh: đó là hình ảnh của chính mình!
 
Ðề: Truyện ma có thật, anh em đóng góp thêm nhé (nhiều tác giả)

8. Hang ổ của con ma

Vài giây sau, hình ảnh của Jeff xuất hiện trong gương cạnh Hannibal.

- Sao? Cậu thấy nó không? - Jeff hổn hển hỏi.

Hannibal gật đầu, không trả lời.

Bà Darnlay và May lại xuất hiện. Khi thấy mặt Hannibal tái xanh, bà chủ nhà thốt ra 1 âm thanh lạ lùng, nửa là tiếng cười, nửa là tiếng thở dài.

- Khủng khiếp quá, phải không?

Thám tử trưởng hít thở thất mạnh, cố kiềm lại không để tay run nữa. Hannibal thậm chí nói chuyện lại được và bình tĩnh trả lời:

- Dạ đúng, thưa bà, khá rùng rợn. Và cháu hiểu tại sao bà khó thừa nhận rằng bà đã thấy 1 vật như thế.

Sau đó, Hannibal nhìn xung quanh, khám xét tường thật kỹ trước khi nhìn trở về tấm gương.

- Cháu tự hỏi không hiểu con ma biến đi đâu! - Thám tử trưởng nói khẽ.

- Có lẽ nó đã quay về nơi từ đâu nó đến - May rùng mình nói - Hy vọng nó sẽ ở lại đó luôn. Dù sao... có thể câu chuyện mà ông Santora kể là có thật. Có thể Chiavo có khả năng hiện lên trong gương.

- Không thể được! - Bà ngoại của May phản đối - Người ta không thể sống trong gương được. Và đây chỉ là tấm gương. Tấm gương bình thường. Tất nhiên là trừ cái khung xấu xí.

- Ðúng - Hannibal đồng tình.

Hannibal bước lại gần gương, sờ thử khung.

- Xấu xí, nhưng xấu xí bình thường, nếu có thể nói thế. Một khung bằng thép kiên cố. Không có gì khả nghi. Không có thiết bị để lừa những người soi vào đó. Và chính kính gương cũng không có gì đặc biệt, ngoại trừ là nó rất cổ. Vậy mà nó cho ta thấy hình ảnh của 1 cụ già ghê rợn. Trong phòng này có cái gì đó bí ẩn. Hiển nhiên! Mình đâu có nằm mơ.

Cơn bão, cho đến nay chỉ gầm gừ, cuối cùng ập xuống thật sự và dữ dội. Dường như chính thời tiết cũng muốn phản kháng sự hiện diện khó hiểu trong tấm gương. Bắt đầu là vài giọt mưa to, rồi mưa xối xả. Tia sét vạch ngoàn ngoèo bầu trời, ngay sau đó là tiếng sấm khủng khiếp làm lung lay ngôi nhà cũ. Ðèn nảy sáng lên, rồi tắt luôn.

- Ôi, trời ơi! Bà chủ nhà than phiền. Chắc sét đánh trúng dây điện rồi!

Hannibal vẫn đứng yên trong bóng tối, lắng nghe trời mưa tầm tã bên ngoài, mắt dò xét bóng đêm xung quanh. Ðột nhiên, ánh mắt thám tử trưởng bị thu hút bởi 1 ánh sáng xanh xanh yếu ớt, như đang nổi lơ lửng phía trên sàn nhà, trong góc phòng.

Thám tử trưởng mạnh dạn bước về hướng ánh sáng bí ẩn. Hannibal thò tay đến, chạm thử. Ngón tay cậu đụng bờ kệ... và đụng vào 1 cái khác nữa. Một chất hơi nhớt. Khi rút tay về, Hannibal nhận thấy đầu ngón tay tỏa sáng nhẹ.

- Ta cần đèn sáng! - Hannibal nói.

Jeff và May bước ra, mò mẫm đi về nhà bếp. ít lâu sau, ngọn lửa dịu của đèn cầy chiếu sáng tiền sảnh. Hai anh em trở về, tay cầm đèn cầy.

- Ðèn pin hết pin rồi - Jeff thông báo.

Jeff đặt đèn cầy trên bàn, còn May đưa đèn cầy đang cầm cho Hannibal.

Thám tử trưởng xem xét bàn tay. Màu xanh lá cây đã biến mất. Nhưng ngón tay Hannibal vẫn còn dính 1 chất xám xám lạ lùng.

- Cái gì vậy? Jeff hỏi.

Hannibal ngửi thận trọng, rồi quay sang May và Bà Darnley.

- Con ma này lạ thật! - Thám tử trưởng thông báo - Nó hóa trang. Phấn hóa trang của nó khá đặc biệt, sáng trong bóng tối gống như phốt pho. Phải chi có thêm ánh sáng.

May vội đi tìm thêm đèn cầy. Khi ấy, Hannibal cẩn thận xem xét kệ sách còn ít chất dính màu xám. Sau đó thám tử trưởng lấy khăn chùi tay, rút hết sách ra khỏi kệ và khám xét bức tường. Thám tử trưởng cạo, gõ, nghe và lập lại thao tác mấy lần.

- Không nghe bọng, Hannibal thở dài. Mặc dù khó tin, nhưng nhất định phải có cánh cửa ở đây. Tường này là tường ngoài của cuối nhà. Phải có chỗ mở cho phép ra vào. Ðó là cách giải thích lôgic duy nhất cho việc con ma kia đi lại. Chỉ còn việc tìm ra cửa mật ấy.

- Nhưng ngôi nhà xây trên sườn đồi mà, bà Darnley nhận xét. Phía bên kia tường chỉ có đất thôi.

- Có thể người ta đã cho đào đường hầm, Hannibal nói. Không nhất thiết là 1 đường hầm rộng lớn.

- Ðường hầm hay chỗ trốn ẩn - May nói khẽ.

Cô bé chỉ bức tường.

- Có thể, May nói thêm, nó... nó đang đứng phía sau, lắng gnhe những gì mình nói.

Jeff đột nhiên chạy ra khỏi phòng. Nghe tiếng Jeff đi vào nhà bếp, đóng mở ngăn kéo. Cuối cùng Jeff trở về, tay cầm cái búa nặng bằng gỗ cứng.

- Không hiểu anh Johndùng cái này để làm gì, nhưng mình sẽ biết cách dùng nếu con ma mắc dịch kia dám đi xuyên qua tường để đến đây - Jeff tuyên bố.

- Có thể nó không còn trong nhà nữa - Hannibal nói - Chỉ có 1 cách để kiểm tra: tìm cánh cửa mật!

Bà Darnley ngồi sụp xuống ghế.

- Hannibal à, tôi van cậu! - Bà dặn dò - Cẩn thận nhé!

- Cháu luôn cẩn thận! - Hannibal khẳng định.
 
Ðề: Truyện ma có thật, anh em đóng góp thêm nhé (nhiều tác giả)

Theo thói quen, hannibal tiến hành tìm kiếm có phương pháp. May và Jeff giúp lấy hết sách ra khỏi kệ, gõ tường để thăm dò. Một thời gian dài trôi qua, không có kết quả. Bức tường phía sau kệ sách không có gì bất thường: không có khe, không có chỗ rỗng. Ván nẹp chân tường, nằm sát sàn nhà, kiên cố và đóng đinh rất chắc. Còn đường dây điện đúng là chứa đường dây điện, như thám tử trưởng thử kiểm tra. Không có gì xoay được, vặn được hay ấn được.

- Chắc là phải có cái nút đâu đó - Hannibal cứng đầu nói - Nhất định là phải có, trong chính bức tường. Nhưng ở chỗ nào?

- Hay là cửa mật chỉ mở được từ bên ngoài? - Jeff gợi ý.

- Không. Nhớ đi! Nhà ảo thuật Drakestar đã cho xây ngôi nhà này. Cửa được bố trí theo lệnh ông ấy. Mình đi tìm thông tin về Drakestar. Ông là nhà ảo thuật danh tiếng, có tiết mụa hay nhất là tự làm mình biết mất. Sau khi từ bỏ sân khấu, ông hay mời khách đến đây và biểu diễn cho khách xem những tiết mục độc đáo cửa ông. Thường ông hay biến mất trước mặt bạn bè. Tối hôm nay, con ma Chiavo đã biết mất trong căn phòng này. Mình suy ra rằng chính nơi này là nơi Drakestar biểu diễn cho khách xem. vây cửa phải mở được từ bên này cũng như từ bên kia.

Hannibal lại ngắm nhìn mấy kệ sách.

- ? hê! Hannibal đột nhiên kêu.

Mắt thám tử trưởng long lanh kích động.

- Có chuyện gì vậy? May hỏi.

- Ta đã gõ, ấn, đẩy mà không thấy gì. Nhưng ta đã quên 1 điều... Những kệ sách này là rất nặng. Bà Darnley ơi! Khi bà mua nhà, kệ sách đã gắn sẵn vào tường rồi, phải không ạ?

- Ðúng.

- Vậy thì bà chỉ việc cho sách vào mà thôi. Xem nào. Khi ta thử đẩy vào tường, thì không có gì xảy ra cả. Nhưng giả tỷ ta làm ngược lại...

Hannibal vừa nói vừa đặt 2 tay dưới kệ còn dính phấn hóa trang của con ma. Khi đó, Hannibal đẩy thật mạnh, từ dưới lên trên và kéo kệ về phía mình.

Không có tiếng động, dù khẽ nhất, vang lên. Nhưng 1 luồng gió nhẹ làm cho cây đèn cầy chập chờn. Ðồng thời, 1 phần tường, kể cả kệ sách, xoay trên ván nẹp chân tường ở dưới.

Trong thư phòng mọi người đều nín thở. Bà Darnley, Hannibal, Jeff và May nhìn lỗ hổng đang hiện trên bức tường. Mọi người nhẹ nhõm không thấy sinh thể quái dị nào nhào ra. Trước mặt chỉ có 1 phòng nhỏ trống không. Tường cuối, đối diện và thấy rõ, được xây bằng đá và rõ ràng là "bức tường đáy" thật sự của ngôi nhà.

Hannibal, cùng Jeff theo sát gót, bước lại để quan sát. Thoạt đầu, thám tử trưởng chỉ thấy bụi và màn nhện. Rồi cậu thấy những bậc thềm đầu của cầu thang đâm vào cái lỗ tối đen như mực.

- Có đèn cầy không! - Hannibal yêu cầu - Cho xin đèn cầy đi.

Jeff vội vàng đưa cho Hannibal 1 cây đèn cầy. Thám tử trưởng xem xét thật kỹ phần tường dùng làm cửa vào.

- Hèn gì vách này không nghe rỗng! Hannibal nhận xét. Nó được xây dày như bức tường thật. Và được lồng vào khung thép nữa. Ðúng là 1 kiệt tác!

Jeff, đứng cạnh Hannibal, nhìn cầu thang bí ẩn.

- Xuống thử không? - Jeff nói khẽ.

- Không được! - Bà ngoại của Jeff nghe được và la lên - Không được mạo hiểm vào chỗ đó.

- Cháu xin lỗi, thưa bà - Hannibal lễ phép nói - Nhưng cháu e rằng phải thám hiểm cái lỗ này. Sau khi giải được 1 phần vụ bí ẩn, cháu không thể dừng lại nữa chừng.

- Mình theo cậu! - Jeff quyết định.

- Không được đâu, Jeff! - Bà Darnley phải đối 1 lần nữa.

- Ôi! - Hannibal kêu - Rất có thể con ma không còn đó nữa. Chắc nó trốn mất rồi. Thậm chí giờ này, có lẽ nó đã đi được rất xa.

Nói xong, Hannibal bước qua ván nẹp chân tường và kiên quyết bước vào cầu thang. Jeff đi theo, tay cầm búa gỗ.

Cầu thang mật rất dốc. ánh đèn cầy chập chờn chiếu sáng tường phủ đầy bụi. Không khí hầm và ẩm.

Cầu thang đột ngột có khúc quẹo. Bậc thềm càng dốc hơn nữa. Cuối cùng cầu thang dẫn ra 1 cái hầm hay nói đúng hơn là 1 gian phòng xây bằng đá, có nền xi măng. Hannibal đưa đèn cầy lên. Phía sau lưng, Jeff căng mắt nhìn.

- Không có ai hết! - Jeff kêu khẽ.

- Nhưng dù sao, đúng là con ma đã qua chỗ này! - Hannibal cam đoan 0 Nhìn kìa! Trên bục có dấu vết khả nghi. Ði! Lại gần xem thử.

Hai cậu tiến lên vài bước. Khi đó, Hannibal nhìn thấy 2 cái rương cũ bị hư hỏng nhiều.

Thám tử trưởng nhanh nhẹn đặc ngón tay lên môi, yêu cầu bạn im lặng. Rồi sau khi đưa đèn cầy cho Jeff, Hannibal cúi xuống khám xét rương gần nhất. Rương không khóa; ổ khoá bị sét không còn dùng được nữa từ lâu. Hannibal mở nắp rương. Bản lề, cũng bị sét, kêu cọt kẹt. Bên trong, 2 bạn thấy 1 túi ngủ cũ mòn, chén dĩa và chai... và cả 1 ổ bánh mì kẹp thịt trong bọc nhựa.

Hannibal nhìn Jeff. Jeff cũng nhìn lại, nét mặt vừa chưng hửng vừa dò hỏi. Hannibal nháy mắt chỉ về hướng rương thứ 2 đặt gần tường phía dưới. Jeff gật đầu, ra hiệu mình đã hiểu... Phải, con ma đã sống ở đó 1 thời gian. Thậm chí rất có thể nó vẫn cón đó. Cái rương thứ nhì đủ lớn để nó trốn vào đó...

Không hề tỏ ra sợ sệt, thám tử trưởng bước thẳng ra chỗ cái rương, cố bước thật nhẹ. Jeff đi theo, cầm đèn cầy thật cao và nắm chặt cái búa gỗ, sẳn sàng hành động. Hannibal cúi xuống để mở nắp cái rương khả nghi.

Nhưng không kịp. Trước khi Hannibal kịp chạm vào, nắp rương như tự nâng lên, đập mạnh vào tường. Rồi tiếng hét vang lên từ cái rương. Một cái gì đó dựng sững lên trước mặt 2 bạn. Sửng sốt trước sự việc quá đột ngột, Hannibal thấy trước mặt mình là 2 con mắt xanh lá cây sáng rực của con ma. Trong giây lát ngắn ngủi, tại gian phòng nhỏ xíu, Hannibal và Jeff đối mặt với hình ảnh khủng khiếp của pháp sư Chiavo.

Rồi, sinh thể ghê rợn lao ra phía trước. Hannibal bị đẩy mạnh vào Jeff. Ðèn cầy tắt đi,trong khi 2 cậu ngã lăn xuống đất. Con ma xanh lá cây tỏa sáng đang nhìn xuống 2 bạn. Jeff hoảng hốt buông cái búa gỗ ra. Nhưng thám tử trưởng vẫn bình tĩnh níu lấy cái áo dài rộng thùng thình của con ma. Miếng vãi rách đi khi con ma lao lên cầu thang.

Tiếng bước của nó vang dội trên bậc thềm. Hannibal ngồi dậy. Cậu đang cầm trong tay 1 vật mềm mại... Mảnh áo. Ðến lượt Hannibal lao lên cầu thang. Thám tử trưởng đang bước lên những bậc thềm đầu tiên, thì nghe tiếng May và bà Darnley hét lên.

Hannibal nhảy phóc quẹo qua khúc cua của cầu thang nhỏ. Ðúng lúc đó, tia chớp sáng trên bầu trời. Ðiều này cho phép cậu thấy rõ con ma. Ðó là 1 gã đàn ông cao và rất gầy, có mớ tóc trắng dài. Hắn đang đứng trên bậc thềm cao, ở ngưỡng cánh cửa mật. May hét lên lần nữa.

Hannibal leo thật nhanh những bậc thềm cuối cùng, băng qua thư phòng như mũi tên bắn và đến tiền sảnh vừa kịp để thấy con ma mở khóa cửa và lao ra ngoài trời mưa bão.

Một tia chớp nữa cho thấy dáng vẻ ma quái của sinh thể đang biến mất trong bóng đêm.

- Trời! - Bà Darnley thốt lên.

Bà đã ra cùng Hannibal. Cậu quay sang bà mỉm cười nói đùa:

- Con ma này không phải là ma thật. Cháu lấy được mảnh váy của nó.
 

CẨM NANG KẾ TOÁN TRƯỞNG


Liên hệ: 090.6969.247

KÊNH YOUTUBE DKT

Cách làm file Excel quản lý lãi vay

Đăng ký kênh nhé cả nhà

SÁCH QUYẾT TOÁN THUẾ


Liên hệ: 090.6969.247

Top