Công ty TNHH 1TV và Công ty Cổ phần cùng chủ sở hữu

Nguyenhue96

New Member
Hội viên mới
Em chào các anh chị,
Em có câu hỏi về trường hợp của công ty mong anh chị hỗ trợ giúp em làm thế nào cho hợp lý ạ:
- Sếp em là người đại diện hợp pháp của công ty TNHH 1 TV, đồng thời là người đại diện của Công ty Cổ phần ( chiếm 90% vốn điều lệ), hiện tại 2 công ty có phát sinh giao dịch mua bán hàng hoá giá trị khoảng 200tr. Anh chị cho em hỏi: Hợp đồng 2 công ty ký kết với nhau cùng là sếp em ký được không? Em có được nghe xử lý theo hướng cty CP sẽ làm uỷ quyền cho cổ đông còn lại ký, nhưng sếp không đồng ý vì cổ đông kia không tham gia hoạt động của công ty và với mức % như thế không có quyền ký đại diện pháp luật.
Vậy trường hợp này em phải xử lý như thế nào để hợp đồng và hoá đơn xuất 2 bên hợp lệ ạ?
Em cảm ơn anh chị!
 
Bạm tham khảo nha. Nên gọi bên dịch vụ luật sư. Họ tư vấn chính xác nha.
Căn cứ tại khoản 3 Điều 141 Bộ luật dân sự quy định:
“3. Một cá nhân, pháp nhân có thể đại diện cho nhiều cá nhân hoặc pháp nhân khác nhau nhưng không được nhân danh người được đại diện để xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với chính mình hoặc với bên thứ ba mà mình cũng là người đại diện của người đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.

Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, tại Khoản 1 Điều 86 Luật doanh nghiệp 2014 có quy định như sau:

“1. Trường hợp Điều lệ công ty không có quy định khác, hợp đồng, giao dịch giữa công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do tổ chức làm chủ sở hữu với những người sau đây phải được Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và Kiểm soát viên xem xét quyết định:

a) Chủ sở hữu công ty và người có liên quan của chủ sở hữu công ty;

b) Thành viên Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và Kiểm soát viên;

c) Người có liên quan của những người quy định tại điểm b khoản này;

d) Người quản lý của chủ sở hữu công ty, người có thẩm quyền bổ nhiệm những người quản lý đó;

đ) Người có liên quan của những người quy định tại điểm d khoản này.

Người ký kết hợp đồng phải thông báo cho Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và Kiểm soát viên về các đối tượng có liên quan đối với hợp đồng, giao dịch đó; đồng thời kèm theo dự thảo hợp đồng hoặc nội dung chủ yếu của giao dịch đó”.

Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên, tại Điều 67 Luật doanh nghiệp 2014 có quy định như sau:

“Người ký kết hợp đồng, giao dịch phải thông báo cho các thành viên Hội đồng thành viên, Kiểm soát viên về các đối tượng có liên quan đối với hợp đồng, giao dịch đó; kèm theo dự thảo hợp đồng hoặc thông báo nội dung chủ yếu của giao dịch dự định tiến hành. Trường hợp Điều lệ công ty không quy định khác thì Hội đồng thành viên phải quyết định việc chấp thuận hợp đồng hoặc giao dịch trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo; trong trường hợp này, hợp đồng, giao dịch được chấp thuận nếu có sự tán thành của số thành viên đại diện ít nhất 65% tổng số vốn có quyền biểu quyết. Thành viên có liên quan trong các hợp đồng, giao dịch không được tính vào việc biểu quyết”.

Như vậy, nếu như căn cứ vào quy định của Bộ luật dân sự cũng như quy định của Luật doanh nghiệp thì trường hợp của bạn vẫn thực hiện được hợp đồng này cho dù cùng một Giám đốc đại diện cho 2 công ty.

Trên thực tế, các công ty thường áp dụng cách sau:
Một công ty uỷ quyền lại cho một người khác để ký hợp đồng. Cách làm này về hình thức đảm bảo theo quy định của pháp luật nhưng về bản chất cũng như việc một người làm đại diện cho hai công ty ký hợp đồng. Bởi lẽ, người được uỷ quyền thực hiện công việc theo uỷ quyền của người đại diện theo pháp luật. Người đại diện theo pháp luật có quyền ký hợp đồng với công ty khác mà mình làm đại diện mới có thể uỷ quyền lại cho người khác.
 
Bạm tham khảo nha. Nên gọi bên dịch vụ luật sư. Họ tư vấn chính xác nha.
Căn cứ tại khoản 3 Điều 141 Bộ luật dân sự quy định:
“3. Một cá nhân, pháp nhân có thể đại diện cho nhiều cá nhân hoặc pháp nhân khác nhau nhưng không được nhân danh người được đại diện để xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với chính mình hoặc với bên thứ ba mà mình cũng là người đại diện của người đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.

Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, tại Khoản 1 Điều 86 Luật doanh nghiệp 2014 có quy định như sau:

“1. Trường hợp Điều lệ công ty không có quy định khác, hợp đồng, giao dịch giữa công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do tổ chức làm chủ sở hữu với những người sau đây phải được Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và Kiểm soát viên xem xét quyết định:

a) Chủ sở hữu công ty và người có liên quan của chủ sở hữu công ty;

b) Thành viên Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và Kiểm soát viên;

c) Người có liên quan của những người quy định tại điểm b khoản này;

d) Người quản lý của chủ sở hữu công ty, người có thẩm quyền bổ nhiệm những người quản lý đó;

đ) Người có liên quan của những người quy định tại điểm d khoản này.

Người ký kết hợp đồng phải thông báo cho Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và Kiểm soát viên về các đối tượng có liên quan đối với hợp đồng, giao dịch đó; đồng thời kèm theo dự thảo hợp đồng hoặc nội dung chủ yếu của giao dịch đó”.

Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên, tại Điều 67 Luật doanh nghiệp 2014 có quy định như sau:

“Người ký kết hợp đồng, giao dịch phải thông báo cho các thành viên Hội đồng thành viên, Kiểm soát viên về các đối tượng có liên quan đối với hợp đồng, giao dịch đó; kèm theo dự thảo hợp đồng hoặc thông báo nội dung chủ yếu của giao dịch dự định tiến hành. Trường hợp Điều lệ công ty không quy định khác thì Hội đồng thành viên phải quyết định việc chấp thuận hợp đồng hoặc giao dịch trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo; trong trường hợp này, hợp đồng, giao dịch được chấp thuận nếu có sự tán thành của số thành viên đại diện ít nhất 65% tổng số vốn có quyền biểu quyết. Thành viên có liên quan trong các hợp đồng, giao dịch không được tính vào việc biểu quyết”.

Như vậy, nếu như căn cứ vào quy định của Bộ luật dân sự cũng như quy định của Luật doanh nghiệp thì trường hợp của bạn vẫn thực hiện được hợp đồng này cho dù cùng một Giám đốc đại diện cho 2 công ty.

Trên thực tế, các công ty thường áp dụng cách sau:
Một công ty uỷ quyền lại cho một người khác để ký hợp đồng. Cách làm này về hình thức đảm bảo theo quy định của pháp luật nhưng về bản chất cũng như việc một người làm đại diện cho hai công ty ký hợp đồng. Bởi lẽ, người được uỷ quyền thực hiện công việc theo uỷ quyền của người đại diện theo pháp luật. Người đại diện theo pháp luật có quyền ký hợp đồng với công ty khác mà mình làm đại diện mới có thể uỷ quyền lại cho người khác.
Em cảm ơn ạ
 

CẨM NANG KẾ TOÁN TRƯỞNG


Liên hệ: 090.6969.247

KÊNH YOUTUBE DKT

Kỹ thuật giải trình thanh tra BHXH

Đăng ký kênh nhé cả nhà

SÁCH QUYẾT TOÁN THUẾ


Liên hệ: 090.6969.247

Top