Xử lý nợ khó đòi

Thảo luận trong 'Phải thu - Phải trả' bắt đầu bởi minhluong80, 3/5/08.

  1. minhluong80

    minhluong80 New Member Hội viên mới

    Được cảm ơn:
    0
    Điểm thành tích:
    0
    Các AE trong diễn đàn coi thử nghiệp vụ này mình làm có đúng không?
    Công ty minh đã thực hiện ra công gia cho một số đơn vị từ năm 2005 đến nay vẫn chưa đòi được nay công ty QĐ đưa khoản nay ra theo dõi ngoài bảng. Vậy mình thực hiện bút toán như sau có đúng không:
    Nợ: Khoản phải thu
    Có: Nguồn vốn

    Nợ 004
    Mong AE cho ý kiến nhé. Thanks!
     
  2. nguyenducduy

    nguyenducduy New Member Hội viên mới

    Được cảm ơn:
    0
    Điểm thành tích:
    0
    Ðề: Sử lý nợ khó đòi

    cáinayf bữa trước công ty đã đưa ra lập dự phòng nợ phải thu khó đòi đưa vào chi phí rồi nay đưa ra ngoài bảng theo doi trên 004 thôi theo mình thì như vậy bác nàochho ý kiến khác cái
    thân chào minhluong
     
  3. minhluong80

    minhluong80 New Member Hội viên mới

    Được cảm ơn:
    0
    Điểm thành tích:
    0
    Ðề: Sử lý nợ khó đòi

    Cảm ơn ý kiến của nguyenducduy, còn AE nao có ý kiến khác không? Xin cho ý kiến nhé. ThankS!
     
  4. hoang nam

    hoang nam New Member Hội viên mới

    Được cảm ơn:
    0
    Điểm thành tích:
    0
    Ðề: Xử lý nợ khó đòi

    bạn hạch toán sai rồi.
    - nếu đã trích lập dự phòng khoản này:
    N139
    C131
    - nếu chưa lập dự phòng:
    N641
    C131
     
  5. Thien Thanh_

    Thien Thanh_ Trần Lạc Nhi Thành viên BQT Hội viên mới

    Được cảm ơn:
    460
    Điểm thành tích:
    8
    Ðề: Xử lý nợ khó đòi

    Cháu lại nghĩ là đưa vào 642 chứ ko đưa vào 641. Vì nó thể hiện khả năng quản lý kém --> phát sinh tăng chi phí quản lý, nó ko fải là chi phí bán hàng. :happy3:
     
  6. loan76

    loan76 Vô Hại Thành viên BQT Moderating

    Được cảm ơn:
    4,444
    Điểm thành tích:
    8
    Ðề: Xử lý nợ khó đòi

    Nợ sau bao nhiêu lâu thì mới được đưa vào dự phòng vậy các bác ( có ng nói là sau 3 năm).
    Hạch toán như sau :
    C139 / N 642.
    Và cho hỏi thêm là sau bao lâu thì mới đc xóa nợ này, và hạch toán như thế nào?
     
  7. muontennguoi

    muontennguoi Member Thành viên BQT Super Moderators

    Được cảm ơn:
    0
    Điểm thành tích:
    6
    Ðề: Xử lý nợ khó đòi

    Ghi ngược rồi.
    • Nợ: Nguồn vốn
      • Có: Khoản phải thu
    Thay vì ghi trực tiếp giảm lợi nhuận chưa phân phối Nợ 421 thì bạn nên ghi nó vào Nợ 811 và loại ra khi tính thuế TNDN.
    Khoản dự phòng nằm đó hoài cho tới khi nào khoản phải thu mà nó dự phòng không còn tồn tại nữa. - Như trường hợp Cty của minhluong80 quyết định không theo dõi nợ nữa chuyển sang theo dõi nợ khó đòi và ghi giảm Nợ phải thu - Hoặc khi thu được nợ thì khoản phải thu không còn nữa. Khi đó sẽ tính hoàn nhập dự phòng.
    Hoàn nhập: hạch toán ngược lại N139/ C642
     
    Chỉnh sửa cuối: 10/5/08
  8. Hientn

    Hientn Member Hội viên mới

    Được cảm ơn:
    0
    Điểm thành tích:
    6
    Ðề: Xử lý nợ khó đòi

    Hạch toán về xóa nợ:
    Nợ TK 139: Nếu đã lập dự phòng.
    Nợ TK 642: Nếu chưa lập dự phòng hoặc số dự phòng không đủ.
    Có TK 131
    Đồng thời ghi đơn: Nợ TK 004.
     
  9. nguyenducduy

    nguyenducduy New Member Hội viên mới

    Được cảm ơn:
    0
    Điểm thành tích:
    0
    Ðề: Xử lý nợ khó đòi

    nợ quá hạn dưới 1 năm thì dc quyền trích lập dự phòng 30%
    từ 1 đến 2 năm thì lập dự phòng 50%
    từ 2 đến 3 năm thì lập 70%
    quá 3 năm thì đưa ra 004

    trích lập dự phòng
    N6426
    C139
    thân chào !
     
    Chỉnh sửa cuối: 10/5/08
  10. muontennguoi

    muontennguoi Member Thành viên BQT Super Moderators

    Được cảm ơn:
    0
    Điểm thành tích:
    6
    Ðề: Xử lý nợ khó đòi

    Hạch toán như vậy chưa đúng lắm.
    Do DN không chỉ có duy nhất 1 khoản nợ. Ta sẽ tính và lập dự phòng (hoặc hoàn nhập) 1 lần vào cuối năm cho tất cả các khoản nợ.
    TK139 (cũng như tất cả các TK dự phòng + TK413) chỉ phát sinh 1 lần vào cuối năm.
     
  11. Hientn

    Hientn Member Hội viên mới

    Được cảm ơn:
    0
    Điểm thành tích:
    6
    Ðề: Xử lý nợ khó đòi

    Ở đây em nói theo chế độ kế toán VN đấy Bác ạ (Phần TK 139 - Chế độ kế toán DN). Kế toán hầu hết các nước khác cũng làm vậy thôi.
    Tất nhiên là không/khó có thể theo dõi số dự phòng cho từng món nợ được.
    Kế toán ghi N139/C131 khi mà số dư 139 còn dư có, nếu số dư 139 đã hết thì đưa vào TK 642.
    Việc hạch toán xóa nợ nếu đã có dự phòng vào TK 139 sẽ cung cấp thông tin hữu ích hơn là việc đưa vào chi phí (mặc dù theo ý Bác thì kết quả cuối cùng cũng như vậy thôi): Theo dõi được số dự phòng đã sử dụng để xóa nợ (các kỳ trước lập dự phòng đã ghi NTK chi phí/Có TK dự phòng rồi).
     
    Chỉnh sửa cuối: 11/5/08
  12. muontennguoi

    muontennguoi Member Thành viên BQT Super Moderators

    Được cảm ơn:
    0
    Điểm thành tích:
    6
    Ðề: Xử lý nợ khó đòi

    TK139 và các tài khoản dự phòng khác + TK413 có mục đích dùng là đánh giá lại để thể hiện trên BCĐKT được sát với trị giá thực tế hơn (nguyên nhân là kế toán ghi sổ theo giá phí).
    Và do đó nó không phải là ghi theo nội dung như là 1 nguồn vốn hay 1 quỹ.
    Quỹ dự phòng tài chánh là 1 TK riêng nữa.
    Chỉ có Quỹ dự phòng tài chánh mới phải theo dõi phát sinh nó đã được sử dụng bao nhiêu, còn lại bao nhiêu ...
    Hoặc là bạn hãy nghĩ xem tình huống: sau khi lập dự phòng thì bổng dưng năm nay khách hàng lại trả lại cho ta đủ số nợ. Hiển nhiên số dự phòng sẽ được hoàn nhập vào cuối năm chứ không phải khi nợ không còn tồn tại. Tình huống này cho thấy TK139 không phải là 1 TK theo dõi 1 loại Tài Sản hay Nguồn vốn nào cả. Nó chi là TK điều chỉnh khi lập BCĐKT.

    Còn quyển sách mà bạn nói ở trên về Chế độ kế toán ban hành kèm theo QĐ15 thì có lẽ nên vứt nó đi.
    Không hề có hướng dẫn hay sơ đồ hạch toán nào ban hành kèm với QĐ15 hay QĐ48 cả.

    Để học định khoản kế toán nên tìm mua sách do các trường ở TP.HCM biên soạn.
     
  13. Hientn

    Hientn Member Hội viên mới

    Được cảm ơn:
    0
    Điểm thành tích:
    6
    Ðề: Xử lý nợ khó đòi

    Thế theo Bác ở Việt Nam thì ai là người có thẩm quyền ban hành chế độ kế toán và các văn bản hướng dẫn? Vụ chế độ kế toán và kiểm toán hay các trường trong TP Hồ Chí Minh. Không thể phủ nhận các trường TP HCM viết sách tương đối hợp lý và dễ hiểu. Tuy nhiên các cuốn sách Chế độ kế toán DN và Chế độ kế toán DN nhỏ và vừa do Vụ chế độ kế toán và kiểm toán ban hành được coi là các văn bản chính thức quy định cụ thể về quyết định 15 và 48.
    Cách mà Bác nói được áp dụng trong Chế độ kế toán Pháp và chế độ kế toán Việt Nam trước khi ban hành QD 15 hay 48. Chắc gì các sách mà Bác đọc đã cập nhật hết các thay đổi của chế độ kế toán.
    Dưới đây em trích các quy định và hướng dẫn hạch toán TK 139 theo chế độ kế toán DN ban hành theo QD số 15:
    Còn đây là cách kế toán nợ phải thu khó đòi theo kế toán Mỹ:
     
    Chỉnh sửa cuối: 13/5/08
  14. muontennguoi

    muontennguoi Member Thành viên BQT Super Moderators

    Được cảm ơn:
    0
    Điểm thành tích:
    6
    Ðề: Xử lý nợ khó đòi

    ban hành : theo tôi chữ "ban hành" ở đây là không thỏa đáng. Sách do XYZ biên soạn và do NXB thuộc ... phát hành thì đúng hơn.
    Và do đó chữ "được coi" cũng không thể.

    Đồng ý những sách cũ có thể không cập nhật lại theo tình hình mới. Chẳng những ta (dân kế toán) phải học liên tục các quy định mới mà còn phải học cách kế toán của các nước khác nữa. Học như điên mà còn chưa ăn thua...
    Ở đây tôi chỉ nói là ở bài trước bạn đã dẫn ra rằng: "theo chế độ kế toán VN đấy Bác ạ (Phần TK 139 - Chế độ kế toán DN)" như là phần bắt buộc của một văn bản quy phạm pháp luật. Cách dẫn như vậy thì không còn gì để thảo luận ở Diễn đàn này nữa.
    Tôi không nói là sách mà bạn đọc dễ hiểu hay khó hiểu, mới hay cũ, đúng hay sai ...
    Nếu bạn trình bày ở đây thì hãy nói đó là ý của bạn, kiến thức, suy nghĩ của bạn.
    Chứ nếu bạn nói đó là quy định thì tôi không thể nói gì được nữa.
    Mà thực tế là tôi không tìm ra văn bản quy định bắt buộc nào như vậy cả.
    Theo tôi thấy thì ở đây người ta đã trừ thẳng vào Nợ phải thu, và nếu đó là khoản Nợ riêng biệt xác định Không Đòi Được thì không tính vào chi phí, do đó khi thu lại thì mới ghi ngược lại (hoàn nhập) và thu nợ:
    Và sau đó thì:"a customer that was once in dire financial condition may recover, and unexpectedly pay an amount that was previously written off"

    ==> Kiếm thêm đoạn khác trích dẫn đi bồ. CHứ cái đoạn trước nó dự phòng theo tỷ lệ ước tính thì cũng giống VN thôi.
     
  15. Hientn

    Hientn Member Hội viên mới

    Được cảm ơn:
    0
    Điểm thành tích:
    6
    Ðề: Xử lý nợ khó đòi

    Vấn đề cuốn "Chế độ kế toán doanh nghiệp" do Vụ chế độ kế toán và kiểm toán phát hành là tài liệu pháp quy hay không thì cũng có nhiều quan điểm tranh cãi. Nếu nói về hình thức pháp quy thì nó không phải là một văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên nó được Vụ chế độ kế toán và kiểm toán, những người xây dựng chuẩn mực và chế độ kế toán VN phát hành thì nhiều người coi đó là tài liệu hướng dẫn chi tiết về chế độ kế toán.
    Có một số người cho rằng việc phát hành Chế độ kế toán dưới dạng sách mà không đưa thành văn bản quy phạm pháp luật, đưa lên mạng thể thiện sự độc quyền và nhằm mục đích thu lợi của Vụ chế độ kế toán và kiểm toán.
    Mặc dù không hẳn là văn bản quy phạm pháp luật nhưng nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác lại coi đó là các tài liệu hướng dẫn cơ sở, như trong quy định tại 161/2007/TT-BTC dưới đây:
    Ngoài ra đoạn trích dẫn của em về cách hạch toán TK 139 cũng là quy định trong thông tư 89/200/TT-BTC (mà chế độ kế toán DN hiện hành cũng quy định như vậy).
    .
    Em thì lại không nghĩ như vậy. Mặc dù các quy định của Bộ tài chính (Vụ chế độ kế toán và kiểm toán) là các văn bản có tính pháp quy nhưng Dân kế toán chúng ta vẫn có quyền trao đổi, đóng góp ý kiến để chế độ kế toán được hợp lý hơn. Còn về hạch toán thì cứ tạm tuân thủ chế độ đã.
    Tất nhiên khi xóa nợ thì phải xóa các khoản nợ cá biệt chứ ạ (Một khoản nợ của một khách hàng cụ thể, không thể xóa nợ chung chung được)., khi đó ghi giảm khoản dự phòng (Dr: Allow. for Uncollectible Accounts) và giảm khoản nợ phải thu (CrAccounts Receivable).
    Tuy nhiên như Bác nói Kế toán Mỹ không hướng dẫn nếu số dư khoản dự phòng đã hết thì hạch toán vào chi phí.
    EM trích dẫn đủ cả hai phương pháp đấy chứ? Phương pháp theo tỷ lệ ước tính trên số dư nợ (tổng số hay theo tuổi nợ) được coi là phương pháp dựa trên Bảng cân đối kế toán, giống kế toán Việt nam. Phương pháp còn lại là phương pháp ước tính trên doanh thu (dựa trên Báo cáo kết quả kinh doanh).
     
    Chỉnh sửa cuối: 14/5/08
  16. muontennguoi

    muontennguoi Member Thành viên BQT Super Moderators

    Được cảm ơn:
    0
    Điểm thành tích:
    6
    Ðề: Xử lý nợ khó đòi

    Đồng ý về các vấn đề khác.
    Riêng đoạn trích dẫn kế toán Mỹ thì:
    • Xin đính chính thay vì dịch sang tiếng Việt là "phương pháp" e rằng không đúng ngữ cảnh. Gọi là 2 "trường hợp", "tình huống" thì đúng hơn.
    • Sẵn tay bạn tìm và trích luôn lên đây đoạn mà kế toán Mỹ ghi Có TK Giảm trừ nợ khó đòi cho 1 khoản nợ cụ thể luôn đi.
    -------------------
    Mấy bài trước tôi nói cũng có nhiều điểm sai.
    Sau khi tìm đọc lại TT13/2006 (thay thế TT107/2001), xin đính chính lại.
    Nội dung chủ yếu của TT13 về Dự phòng nợ khó đòi như sau:
    1. DN được phép trích lập dự phòng khó đòi cho các khoản nợ khó đòi cụ thể.
    2. Các khoản dự phòng nợ khó đòi này được tính vào chi phí.
    3. Mức trích lập dự phòng dựa trên tuổi nợ quá hạn:
      - quá hạn 3 tháng - dưới 1 năm: 30%
      - quá hạn 1 năm - dưới 2 năm: 50%
      - quá hạn 2 năm - dưới 3 năm: 70%
      - quá hạn 3 năm trở lên: xóa nợ.
    4. Đối với con nợ bị giải thể, phá sản, cá nhân bị chết, mất tích... cũng được tính xóa nợ dù chưa quá hạn 3 năm.
     
  17. Hientn

    Hientn Member Hội viên mới

    Được cảm ơn:
    0
    Điểm thành tích:
    6
    Ðề: Xử lý nợ khó đòi


    • Em thì lại nghĩ là dùng từ phương pháp thì hợp lý hơn. Nguyên gốc của từ này một số sách viết là approach, một số viết là method.
      Có hai phương pháp để ước tính nợ phải thu khó đòi nghe hợp lý hơn là có 2 trường hợp hay 2 tình huống chứ bác.
      Thực ra ở ví dụ trên em cũng có đưa ra ví dụ về xóa nợ cho một khách hàng cụ thể rồi nhưng ví dụ đó hơi khó theo dõi. Em ngại post bằng Tiếng Anh (vì em viết English kém lắm). Em đưa ra một ví dụ theo sách khác mà em có:
      Chẳng hạn Công ty A áp dụng việc lập dự phòng nợ phải thu khó đòi (không phải là xóa nợ trực tiếp).
      Khi xác định khoản nợ của khách hàng X 200 thực sự không thu hồi được thì kế toán tiến hành xóa sổ bằng bút toán Nhật ký.
      Nợ TK dự phòng phải thu (Allowance for Uncollectible Accounts) 200

      Có TK Phải thu khách hàng-Khách X (Accounts Reicevable) 200.
      Việc xóa sổ một khoản nợ cụ thể ghi giảm một khoản nợ cụ thể, trừ vào khoản dự phòng chung đã lập chứ không có khoản dự phòng lập cho từng khách cụ thể.
      Chắc ở các bài viết trên của em bác lại hiểu nhầm ý em thành xóa nợ ghi giảm dự phòng phải thu khó đòi cho chính khoản nợ đó.
     
    Chỉnh sửa cuối: 16/5/08
  18. TrietThai

    TrietThai Member Thành viên BQT Super Moderators

    Được cảm ơn:
    0
    Điểm thành tích:
    6
    Ðề: Xử lý nợ khó đòi

    Đúng là việc trích lập dự phòng này được thực hiện vào cuối niên độ Kế toán.
    Các Pác cho em hỏi :
    -Việc theo dõi Nợ TK 004 này được thực hiện ít nhất trong bao nhiu năm ??
    -Giả sử sau này đòi được nợ vậy các Pác cho em hỏi có phải là hạch toán vào TK 711 ???
    -Chi phí cho việc đòi nợ này hạch toán vào TK 811 ???
     
  19. Hientn

    Hientn Member Hội viên mới

    Được cảm ơn:
    0
    Điểm thành tích:
    6
    Ðề: Xử lý nợ khó đòi

    Vấn đề này bạn xem trong TT 13 đính kèm của bác muontennguoi hoặc Chế độ kế toán DN, phần TK 139.
     
  20. muontennguoi

    muontennguoi Member Thành viên BQT Super Moderators

    Được cảm ơn:
    0
    Điểm thành tích:
    6
    Ðề: Xử lý nợ khó đòi

    Thì có 2 tình huống, 2 trường hợp, 2 khoản khác nhau nên cũng có 2 phương pháp tính và hạch toán khác nhau:
    1. Khoản dự phòng khó đòi chung: tính theo tỷ lệ kinh nghiệm các năm trước. Khoản này nhằm mục đích điều chỉnh BCDKT (theo giá có thể thực hiện được - mang tính "dự phòng" rõ ràng).
    2. Khoản giảm nợ của 1 khoản nợ cụ thể mà có bằng chứng rõ ràng rằng khó có hy vọng thu được nợ.
    Tôi thì tưởng ngược lại.
    Tưởng rằng: "Việc xóa sổ một khoản nợ cụ thể ghi giảm một khoản nợ cụ thể, trừ vào khoản dự phòng chung đã lập chứ không có khoản dự phòng lập cho từng khách cụ thể".
    Nếu như vậy thì tôi mới thắc mắc.
    =============

    Trước TT13 thì các khoản nợ khó đòi DN phải chịu, không được tính chi phí. Nhưng khi đòi được khoản nợ đã xóa thì lại phải nộp thuế TNDN.
    Do đó, ngày xưa tôi không bao giờ xóa nợ cả. Vì lỡ mình may mắn đòi lại được thì lại phải nộp thuế -> lỗ -> không chịu.

    ===============
    TT13 cho phép tính vào chi phí :
    • Nếu nợ quá hạn thì dự phòng từ từ, chia ra 3 năm tính vào chi phí mỗi năm tính 1 lần vào ngày 31/12.
    • Nếu có bằng chứng chắc chắn (DN phá sản, cá nhân chết, mất tích..) thì xóa ngay 100%. Nếu trước đó đã có lập dự phòng (chưa đủ 100%) thì ghi giảm 139, phần thừa còn lại thì ghi vào chi phí kỳ này.
    Vì được phép tính vào chi phí (ghi Nợ 642) nên khi may mắn thu lại được thì ghi 711 và nộp thuế TNDN là công bằng, hợp lý.
    Sau khi xóa nợ phải theo dõi ngoài bảng ít nhất 5 năm.
    Con số 5 năm này phù hợp với 5 năm chuyển lỗ, kế hoạch dài hạn 5 năm v.v...
    Tuy nhiên sau 5 năm (năm 6,7...) mà thu được nợ thì vẫn phải khai và nộp thuế thu nhập.
    ===========================

    Đó là kế toán VN. Còn kế toán Mỹ ngược lại:
    • Khoảng dự phòng theo tỷ lệ khó đòi năm trước thì được tính vào chi phí.
    • Còn khoản xóa nợ cụ thể thì không tính vào chi phí.
    Như vậy kế toán Mỹ đã làm cho đều đều chi phí dự phòng.
    Còn ở VN thì có bao nhiêu tính bấy nhiêu (miễn là chứng từ đầy đủ).
    => Ở VN thấy mặt tờ giấy thì mới tin.
     
    Chỉnh sửa cuối: 16/5/08

Chia sẻ trang này

XenForo Add-ons by Brivium ™ © 2012-2013 Brivium LLC.