Vai trò của kiểm toán trong nền kinh tế thị trường??

hanhsuong236

New Member
Hội viên mới
Tìm tài liệu về vai trò kiểm toán trong nền kinh tế thị trường!!!Ai có giúp mình với!!Cảm ơn nhiều!!:love03:
 
Sửa lần cuối:
Ðề: Vai trò của kiểm toán trong nền kinh tế thị trường??

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, hoạt động kiểm toán độc lập đã hình thành và phát triển ở Việt Nam trong hơn mười lăm năm qua, trở thành nhu cầu tất yếu đối với hoạt động kinh doanh và góp phần nâng cao chất lượng quản lý doanh nghiệp.

Kiểm toán độc lập đã tham gia tích cực vào việc kiểm tra, đánh giá, xác nhận độ tin cậycủa các thông tin kinh tế tài chính, góp phần đáng kể vào hoạt động sắp xếp, đổi mới, cổ phần hóa doanh nghiệp và thu hút các hoạt động đầu tư của nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế đất nước. Kiểm toán độc lập đã khẳng định được vụ trí và vai trò quan trọng trong nền kinh tế.
 
Ðề: Vai trò của kiểm toán trong nền kinh tế thị trường??

1 - Chi tiêu công và xu hướng

Cùng với thuế, chi tiêu công là một trong những công cụ chủ yếu của hoạt động tài chính quốc gia, với hai chức năng chủ yếu: chức năng xã hội và chức năng kinh tế. Theo quan điểm của trường phái Keynes, chi tiêu công bảo đảm sự hài hòa xã hội nhất định đồng thời đóng vai trò ổn định nền kinh tế. Theo cách hiểu chung nhất, chi tiêu công là tập hợp các khoản chi nhằm bảo đảm cho nhà nước hoạt động và thực hiện các chức năng của mình về quản lý kinh tế, xã hội.

Chi tiêu công trước hết phụ thuộc vào phạm vi của các hoạt động công hay của các cơ quan hành chính công. Thông thường, phạm vi của các cơ quan hành chính công bao gồm: cơ quan hành chính công trung ương có vai trò, thẩm quyền ở cấp quốc gia, tức là chính phủ và các cơ quan khác thuộc bộ máy hành chính trung ương, đơn vị sự nghiệp công; cơ quan hành chính công địa phương (chính quyền địa phương, đơn vị sự nghiệp công địa phương). Chi tiêu công và khu vực công là hai khái niệm khác nhau. Các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) không thuộc phạm vi khái niệm chi tiêu công, ngay cả khi toàn bộ vốn của các doanh nghiệp này thuộc về nhà nước. Chi tiêu công cũng không bao gồm các khoản chi của các tổ chức, cá nhân được nhà nước cấp vốn hoạt động, tuy nhiên đây là các khoản chi thuộc đối tượng kiểm toán của kiểm toán nhà nước (KTNN). Mặt khác, trong chi tiêu công cần phân biệt nhiều loại chi khác nhau. Nếu phân loại về mặt kinh tế, chi tiêu công bao gồm: chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển (chi vốn), chi khác (hỗ trợ, viện trợ...).

Đồng thời với quá trình phát triển kinh tế, các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước phải thực hiện ngày càng gia tăng nhanh chóng. Do vậy, chi tiêu công của nhà nước có xu hướng tăng liên tục và có hai đặc điểm chính.

Thứ nhất, sự tăng chi diễn ra ngày càng nhanh và mạnh; thứ hai, bắt đầu xuất hiện các hiệu ứng ngưỡng: việc tăng chi diễn ra theo từng đợt đột biến nối tiếp nhau. Tuy nhiên, tốc độ tăng chi tiêu công khác nhau giữa các quốc gia, phụ thuộc vào cơ cấu kinh tế - xã hội, mức độ can thiệp của nhà nước và mức độ xã hội hóa rủi ro.

Ở Việt Nam, chi tiêu công cũng có xu hướng tăng liên tục.

2 - Quản lý chi tiêu công và rủi ro trong quản trị chi tiêu công

Có 2 phương thức chính quản lý chi tiêu công: quản lý theo đầu vào và quản lý theo kết quả đầu ra (còn gọi là quản lý theo kết quả hoạt động). Quản lý theo đầu vào tập trung kiểm soát chi phí đầu vào của các đơn vị một cách chặt chẽ theo các tiêu chuẩn, định mức, chế độ chi tiêu do nhà nước quy định. Phương thức quản lý này có ưu điểm là đơn giản, rõ ràng, dễ kiểm soát chi tiêu thông qua việc so sánh số thực chi với định mức, chế độ chi của nhà nước. Tuy nhiên, phương thức quản lý này có nhược điểm là không đánh giá được việc thực hiện mục tiêu của các khoản chi; ít có tác dụng trong việc khuyến khích các đơn vị chi tiêu sử dụng ngân sách có hiệu quả. Để khắc phục tình trạng này, từ những năm 50 của thế kỷ XX, các nước phát triển và đang phát triển thực hiện nhiều cuộc cải cách chi tiêu công theo hướng nới lỏng kiểm soát đầu vào, kiểm soát chi phí sang kiểm soát theo kết quả đầu ra. Quản lý theo kết quả đầu ra là phương thức quản lý chi tiêu công mới được vận dụng và phát triển từ khái niệm “quản lý theo kết quả” từ khu vực tư sang khu vực công, với sự chuyển trọng tâm từ hình thức quản lý theo “mệnh lệnh và kiểm soát” sang hình thức “thúc đẩy và hỗ trợ”. Quản lý theo kết quả đầu ra gắn số lượng ngân sách được phân bổ với kết quả được tạo ra; hay một mức tăng chi ngân sách dẫn tới một mức tăng của kết quả. Quản lý theo kết quả đầu ra cho phép kiểm soát và đánh giá chi tiêu một cách đúng đắn hoạt động và kết quả hoạt động của các cơ quan chính phủ dựa trên các mục tiêu, tiêu chí đánh giá đã được xác lập trong các kế hoạch hoạt động, dự toán ngân sách. Nhưng trên thực tế, việc vận hành phương thức này khá phức tạp, đòi hỏi phải có thời gian, nguồn lực, công cụ và những điều kiện nhất định mới có thể đáp ứng được.

Trong quản trị chi tiêu công cần phải nhận diện, phân tích, đánh giá những rủi ro có thể gặp phải trong chi tiêu công. Nghiên cứu rủi ro trong quản trị chi tiêu công trên thế giới người ta thường chia thành bốn nhóm rủi ro theo các đặc điểm: các nghĩa vụ trực tiếp và dự phòng (bất thường), nghĩa vụ mang tính pháp lý và nghĩa vụ mang tính đạo đức.

Nghĩa vụ trực tiếp mang tính pháp lý là những nghĩa vụ đã được các chính phủ cam kết rõ ràng bằng luật hoặc trong các hợp đồng mà chắc chắn sẽ xảy ra trong mọi trường hợp. Với tính chất như vậy, nghĩa vụ này được coi là những khoản chi tiêu “cứng”, chẳng hạn: tiền lương của công chức nhà nước. Các khoản chi này có thể dự tính trước được khi lập kế hoạch, dự toán ngân sách. Rủi ro trong các khoản chi này tuy không cao, nhưng do phần lớn các khoản chi này nhằm bảo đảm hoạt động của chính phủ và các cấp chính quyền, nên thường bị chỉ trích nhiều nhất.

Nghĩa vụ trực tiếp mang tính đạo đức cũng là những nghĩa vụ chắc chắn sẽ xuất hiện trong tương lai, nhưng bản thân chính phủ các nước không công khai cam kết. Tuy nhiên, do những hậu quả to lớn mà chúng có thể gây ra cho xã hội nên chính phủ phải can thiệp, giải quyết, như chi hỗ trợ giải quyết việc làm, chi cho chương trình an sinh xã hội. Rủi ro liên quan đến các loại nghĩa vụ này không lớn, vì có thể dự tính trước.

Nghĩa vụ dự phòng (bất thường) mang tính pháp lý là những cam kết chi trả của các chính phủ khi một sự kiện nào đó diễn ra, như: bảo lãnh của chính phủ đối với các khoản vay nợ không phải của chính quyền trung ương (thường chủ nợ là chính quyền địa phương, các doanh nghiệp quốc doanh, hoặc thậm chí cả các doanh nghiệp ngoài quốc doanh); bảo lãnh của chính phủ đối với các khoản vay chính sách (như cho vay hỗ trợ doanh nghiệp công ích, hỗ trợ sinh viên, hỗ trợ nông nghiệp...). Quy mô của các khoản bảo lãnh này càng lớn thì khả năng những nghĩa vụ này trở thành những nghĩa vụ thực tế càng cao, do đó mức độ rủi ro của ngân sách càng lớn. Vì vậy, chính phủ cần hạn chế bảo lãnh cho vay bằng các điều kiện chặt chẽ và thẩm quyền quyết định bảo lãnh.

Nghĩa vụ dự phòng (bất thường) mang tính đạo đức là những nghĩa vụ tuy chính phủ các nước không cam kết, nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau, vẫn phải thực hiện khi rủi ro diễn ra. Chẳng hạn, chính phủ có thể phải chi đột xuất để cứu trợ bão lụt, hỗ trợ nông dân gặp khó khăn do hậu quả thiên tai, dịch bệnh đối với vật nuôi, cây trồng... Loại chi tiêu để giải quyết các nghĩa vụ này thường gây lo ngại nhiều nhất về tính bền vững ngân sách, đó là các khoản cứu trợ DNNN thua lỗ hay tái cấp vốn cho các ngân hàng thương mại quốc doanh thua lỗ.

Một khía cạnh khác liên quan đến rủi ro trong quản trị chi tiêu công đó là những hậu quả kinh tế mà sự tăng chi tiêu công có thể gây ra theo hai hướng: cản trở sự phát triển của nền kinh tế và chưa chắc đã đạt được mục tiêu đề ra. Thực vậy, việc tăng chi tiêu công không hợp lý, không có cơ chế kiểm soát chi phí chặt chẽ và không có cạnh tranh có thể khuyến khích việc phân bổ các nguồn lực của cộng đồng một cách kém hiệu quả, dẫn tới nguy cơ cản trở việc sử dụng có lợi hơn các nguồn lực hiện có, tức là cản trở sự phát triển của nền kinh tế. Mặt khác, tăng chi tiêu công cũng có thể dẫn đến phải tăng vay nợ hay tăng các khoản thu (thuế) mới, điều đó ảnh hưởng đến tiết kiệm của các hộ gia đình và tích lũy của doanh nghiệp, làm giảm khả năng đầu tư của khu vực tư.

Để giảm thiểu rủi ro trong chi tiêu công, đáp ứng được nhu cầu về tài chính ngày càng tăng cho sự phát triển kinh tế - xã hội, tạo điều kiện cho tăng trưởng kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội, duy trì được cân đối thu - chi, các yêu cầu cơ bản trong quản trị chi tiêu công là: công khai minh bạch, trách nhiệm giải trình, đạt hiệu quả kinh tế - xã hội và sự giám sát của người dân.

Để giảm thiểu rủi ro trong chi tiêu công, đáp ứng được nhu cầu về tài chính ngày càng tăng cho sự phát triển kinh tế - xã hội, tạo điều kiện cho tăng trưởng kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội, duy trì được cân đối thu - chi, các yêu cầu cơ bản trong quản trị chi tiêu công là: công khai minh bạch, trách nhiệm giải trình, đạt hiệu quả kinh tế - xã hội và sự giám sát của người dân.

Minh bạch tài chính có vị trí quan trọng trong quản lý chi tiêu công; nâng cao tính trách nhiệm của người dân đối với việc sử dụng nguồn tài chính của chính phủ và chất lượng quản lý tài chính; tạo điều kiện cho công tác giám sát của các cơ quan chính phủ, các tổ chức xã hội và nhân dân về việc phân bổ và chi tiêu các nguồn lực công của quốc gia, nâng cao hiệu quả quản lý chi tiêu công.

Trách nhiệm giải trình đòi hỏi phải có sự giám sát hiệu quả, không chỉ từ các cơ quan nhà nước mà còn từ công chúng, những người đóng thuế. Tính minh bạch và trách nhiệm giải trình đều yêu cầu dự toán, quyết toán và kết quả kiểm toán ngân sách phải được công bố công khai kịp thời. Về các hoạt động của chính phủ, giải trình chính phủ phải bao gồm cả giải trình quá trình và giải trình kết quả. Theo cách truyền thống, giải trình chính phủ thường được kiểm tra việc tuân thủ pháp luật trong quá trình hoạt động, đó gọi là kiểm tra giải trình quá trình. Với xu hướng quản lý từ truyền thống chuyển sang quản lý theo kết quả, việc tập trung vào giải trình kết quả của chính phủ dần dần trở thành một xu hướng mới. Mặt khác, bất cứ hoạt động nào của chính phủ đều phải gắn với các số liệu tài chính công, vì vậy giải trình chính phủ bao gồm giải trình tài chính và giải trình hoạt động hay hiệu quả hoạt động. Với vị trí là cơ quan kiểm tra tài chính công cao nhất, KTNN có vai trò rất quan trọng trong giải quyết các vấn đề nói trên.

3 - Vai trò của các cơ quan kiểm toán tối cao trong việc nâng cao hiệu lực quản lý chi tiêu công

Cơ quan kiểm toán tối cao (còn gọi là KTNN) là công cụ kiểm tra tài chính công quan trọng của nhà nước. Với các chức năng cơ bản là kiểm tra, xác nhận, đánh giá và tư vấn, hoạt động KTNN góp phần bảo đảm minh bạch, phân bổ, quản lý, sử dụng các nguồn lực tài chính nhà nước và tài sản công một cách hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả. Mọi hoạt động liên quan đến tài chính nhà nước và tài sản nhà nước, mọi cơ quan, tổ chức, đơn vị có quản lý và sử dụng các nguồn lực tài chính nhà nước và tài sản nhà nước đều chịu sự kiểm tra của cơ quan KTNN. Ngoài chức năng, nhiệm vụ này, cơ quan KTNN còn thực hiện kiểm toán tính tuân thủ, tính kinh tế, tính hiệu lực và hiệu quả việc quản lý, sử dụng các nguồn lực tài chính nhà nước và tài sản nhà nước.

Vai trò của KTNN trong quản lý và nâng cao hiệu lực quản lý chi tiêu công biểu hiện trên những khía cạnh cơ bản sau:

Một là, KTNN hỗ trợ quản lý, kiểm soát chi tiêu công trong cả hai phương thức quản lý: theo chi phí đầu vào và theo kết quả đầu ra. Trong điều kiện quản lý chi tiêu công theo chi phí đầu vào như hiện nay ở Việt Nam và hầu hết các nước đang phát triển, KTNN kiểm tra, xem xét cách thức lập dự toán ngân sách, việc tuân thủ định mức, tiêu chuẩn, chế độ Nhà nước quy định. Đối với phương thức quản lý theo kết quả đầu ra, KTNN kiểm tra, đánh giá hiệu lực, hiệu quả sử dụng các nguồn lực công và kết quả đạt được so với mục tiêu đề ra. Đó là hình thức kiểm toán hoạt động của KTNN.

Hai là, KTNN thực hiện kiểm toán tài chính, tuân thủ và hoạt động các khoản chi tiêu công thông qua hai phương thức: kiểm toán trước (tiền kiểm) và kiểm toán sau (hậu kiểm), góp phần ngăn ngừa rủi ro, răn đe sai phạm, nâng cao hiệu quả trong chi tiêu công.

Ở nhiều quốc gia trên thế giới, luật pháp quy định KTNN có trách nhiệm thực hiện kiểm toán dự toán ngân sách nhà nước hằng năm trước khi trình quốc hội quyết định nhằm chỉ ra những hạn chế, bất cập trong việc xác định các khoản chi, cơ cấu chi ngay trong giai đoạn lập dự toán; cảnh báo nguy cơ rủi ro trong chi tiêu công có thể phá vỡ tính bền vững của ngân sách; đồng thời tư vấn, kiến nghị các giải pháp phân bổ ngân sách, tài sản nhà nước hợp lý, tập trung, đúng đối tượng bảo đảm nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng các nguồn lực tài chính nhà nước và hạn chế rủi ro tài chính. KTNN kiểm toán tính tuân thủ pháp luật, chế độ, tiêu chuẩn, định mức trong xây dựng dự toán các khoản chi; tính đầy đủ của các khoản chi trong cân đối ngân sách, qua đó giảm thiểu những sai phạm ngay từ khi lập, phân bổ và quyết định dự toán. Đặc biệt, đối với các khoản chi thuộc nghĩa vụ dự phòng thường có độ rủi ro cao, như: chi cấp vốn cho DNNN hay chi tái cấp vốn cho các ngân hàng thương mại nhà nước (các khoản chi mà nhà nước thường phải phát hành trái phiếu và phải trả lãi, tạo nên gánh nặng cho ngân sách nhà nước (NSNN), rủi ro sẽ rất cao nếu như kinh doanh của các đơn vị được cấp vốn kém hiệu quả, thua lỗ), qua kiểm toán tại các đơn vị kinh tế cơ sở của nhà nước KTNN biết rõ thực trạng tài chính, hiệu quả kinh doanh, khả năng phát triển của các đơn vị để tư vấn cho chính phủ khi xác định đơn vị được cấp, số vốn và mục đích sử dụng ưu tiên trong quá trình phân bổ vốn.

Đối với hậu kiểm, tức kiểm toán báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán chi tiêu của chính phủ, các cấp chính quyền địa phương và tại các đơn vị sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước về việc tuân thủ chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi do nhà nước quy định không chỉ nhằm mục đích xác nhận số liệu quyết toán, minh bạch tài chính mà còn góp phần răn đe sai phạm, tham nhũng, lãng phí trong chi tiêu công, ngăn ngừa rủi ro phát sinh trong cả 4 loại nghĩa vụ nói trên. Dựa trên các kiến nghị của KTNN, các khoản chi sai chế độ, tiêu chuẩn, định mức, sử dụng sai mục đích sẽ bị thu hồi, hoàn trả cho NSNN; cá nhân phê duyệt chi sai sẽ bị xem xét, xử lý trách nhiệm. Số liệu chi tiêu công được KTNN kiểm tra và xác nhận là cơ sở tin cậy để chính phủ hoạch định các chính sách, biện pháp kinh tế, tài chính; để quốc hội quyết định, phê chuẩn các chỉ tiêu kinh tế và chính sách kinh tế, tài chính, dự án quan trọng của quốc gia. KTNN còn xem xét, đánh giá văn bản pháp luật, hệ thống tiêu chuẩn, định mức, chế độ chi, một mặt, về những ưu điểm, hợp lý; mặt khác, về những vấn đề còn bất cập, không sát hợp với thực tiễn, những rủi ro pháp luật... Những ý kiến của KTNN sẽ góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách quản lý, hệ thống định mức phân bổ ngân sách, định mức, tiêu chuẩn, chế độ chi tiêu; đồng thời là cơ sở để các cơ quan quản lý đề ra các biện pháp quản lý thích hợp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, kiểm soát chi tiêu công.

Khi kinh tế phát triển theo chiều sâu, mô hình quản trị theo kết quả đầu ra, lập ngân sách theo khuôn khổ chi tiêu trung hạn, ngoài kiểm toán việc tuân thủ pháp luật, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu, KTNN thực hiện kiểm toán hoạt động để phân tích, đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội trong sử dụng nguồn lực công, nhất là các dự án đầu tư, các chương trình mục tiêu quốc gia. Tuy nhiên, kiểm toán hoạt động đòi hỏi đội ngũ kiểm toán viên có trình độ cao, vừa phải có kiến thức vĩ mô, vừa có kiến thức kinh tế, kỹ thuật của các ngành khác nhau để có thể đánh giá xác đáng, hợp lý tình hình hoạt động của các cơ quan chính phủ. Đây là một thách thức lớn đối với cơ quan KTNN của các quốc gia đang phát triển nói chung và KTNN Việt Nam nói riêng.

Ba là, cùng với kiểm toán các khoản chi tiêu công, kiểm toán nợ công giúp chính phủ có được một bức tranh toàn diện về thu, chi, nợ chính phủ, nhất là các khoản nợ bất thường, từ đó hạn chế được rủi ro đối với các nghĩa vụ dự phòng (bất thường). Kiểm toán xác nhận số liệu nợ, đánh giá tính bền vững của nợ chính phủ so với GDP, trong mối quan hệ với bảo đảm an ninh tài chính quốc gia, cơ cấu nợ, tỷ lệ vay nợ nước ngoài trong tổng số nợ, cơ chế quản lý nợ, mục đích sử dụng các khoản vay nợ (nhất là nợ nước ngoài), tính minh bạch và đầy đủ trong các khoản nợ... giúp chính phủ có số liệu xác thực và thực trạng trung thực để đề ra các giải pháp tổng thể bảo đảm bền vững của ngân sách trong tương lai.

Với các chức năng cơ bản là kiểm tra, xác nhận, đánh giá và tư vấn, hoạt động KTNN góp phần bảo đảm minh bạch, phân bổ, quản lý, sử dụng các nguồn lực tài chính nhà nước và tài sản công một cách hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả. Mọi hoạt động liên quan đến tài chính nhà nước và tài sản nhà nước, mọi cơ quan, tổ chức, đơn vị có quản lý và sử dụng các nguồn lực tài chính nhà nước và tài sản nhà nước đều chịu sự kiểm tra của cơ quan KTNN.

Bốn là, KTNN là công cụ quan trọng để phối hợp, gắn kết chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ, hạn chế tác động qua lại bất lợi của hai chính sách này. Chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ là hai công cụ quản lý, điều tiết vĩ mô quan trọng của nhà nước, có quan hệ mật thiết, ảnh hưởng, tác động qua lại với nhau. Việc phối hợp đồng bộ để phát huy tối đa hiệu quả của hai chính sách này luôn là vấn đề đặt ra trong điều kiện nền kinh tế ở giai đoạn lạm phát và giảm phát.

Trong thời kỳ lạm phát, nhà nước thực hiện chính sách tài khóa và tiền tệ thắt chặt. Hoạt động kiểm toán góp phần lành mạnh hóa, nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách, tiết kiệm chi tiêu công làm giảm thâm hụt ngân sách, từ đó giảm gánh nặng tài trợ thâm hụt, giảm sức ép lạm phát. KTNN hỗ trợ các cơ quan quản lý kiểm soát chi tiêu công bảo đảm tiết kiệm, chống lãng phí, thực hiện nghiêm dự toán, chế độ, tiêu chuẩn, định mức; xem xét và kiến nghị cơ cấu lại các khoản chi, cắt giảm chi mua sắm tài sản công không cấp bách, tạm dừng các công trình chưa thực sự quan trọng để tập trung cho các khoản chi đầu tư có hiệu quả và các khoản chi cho sản xuất, an sinh xã hội. Đối với chính sách tiền tệ thắt chặt, thông qua kiểm toán hằng năm đối với ngân hàng nhà nước, một số ngân hàng thương mại nhà nước, KTNN đi sâu phân tích, đánh giá thực trạng các chỉ tiêu về lượng tiền phát hành, in tiền từng thời kỳ, các quỹ dự trữ bắt buộc, lượng dự trữ ngoại hối, lãi suất vay, cho vay, tổng phương tiện thanh toán, tổng dư nợ... từ đó kiến nghị với chính phủ các giải pháp kiểm soát chặt lượng tiền bơm ra và hút về thông qua các kênh truyền dẫn tiền tệ, kiểm soát sử dụng quỹ dự trữ ngoại hối, thực hiện chính sách lãi suất, tỷ giá ở mức hợp lý, tăng cường kiểm soát hoạt động của ngân hàng và các tổ chức tín dụng...

Trong thời kỳ khủng hoảng, suy thoái kinh tế, nhà nước thực hiện chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ nới lỏng, tăng cường chi tiêu công, nhiệm vụ của KTNN càng nặng nề hơn trong việc cảnh báo, ngăn ngừa rủi ro trong quá trình thực hiện 2 chính sách cùng nới lỏng. Các gói kích cầu của các chính phủ tuy khác nhau về biện pháp cụ thể, nhưng luôn liên quan đến tăng chi tiêu công vào các mục đích, hình thức khác nhau, như: đầu tư công, bảo lãnh tín dụng, mua lại các tập đoàn kinh tế quan trọng có nguy cơ phá sản, giảm thuế, trợ cấp cho người dân... Xét về bản chất thì đó là các nghĩa vụ dự phòng mang tính đạo đức, tăng chi tiêu công để kích thích tổng cầu, giúp đưa nền kinh tế ra khỏi suy thoái. Việc kiểm tra của KTNN đối với các khoản chi này từ khâu phân bổ vốn đến việc sử dụng vốn tại các đơn vị kinh tế được nhận vốn là sự kiểm soát cần thiết bảo đảm giảm thiểu rủi ro và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Tại Hội nghị G 20 mới đây và một số hội nghị khu vực, chính phủ các nước đã có sự đồng thuận cao trong việc tăng cường đầu tư công kích thích kinh tế, gắn liền với tăng cường hệ thống giám sát tài chính và cảnh báo nguy cơ. Để hỗ trợ, nhiệm vụ trọng tâm của KTNN là kiểm tra các gói chính sách kích cầu bảo đảm sử dụng đúng mục đích, đúng đối tượng, đồng thời tránh lạm dụng, sử dụng lãng phí, kém hiệu quả. Vai trò đó của KTNN sẽ còn cao hơn và hiệu quả hơn nếu KTNN tiến hành kiểm toán (tiền kiểm) trong giai đoạn phân bổ vốn cho các giải pháp thuộc gói kích cầu đúng trọng tâm, trọng điểm, không dàn trải. Trong giai đoạn giảm phát, thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng, linh hoạt KTNN sẽ hỗ trợ chính phủ kiểm soát chặt chẽ, thường xuyên cơ cấu tín dụng, dư nợ tín dụng, mức tăng tổng phương tiện thanh toán, bảo lãnh cho vay... góp phần hạn chế rủi ro, phát huy hiệu quả của chính sách tiền tệ và hiệu quả phối hợp với chính sách tài khóa.

Cùng với sự tiến bộ của nền kinh tế toàn cầu và khu vực, chi tiêu công ngày càng có vai trò quan trọng trong thực hiện điều tiết vĩ mô của nhà nước; nhu cầu và sự mong đợi của người dân về tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của chính phủ tăng lên; xu hướng đổi mới phương thức quản lý hành chính theo kết quả hoạt động liên tục phát triển. Để phát huy ngày càng tốt hơn vai trò quan trọng trong quản lý và nâng cao tính hiệu lực chi tiêu công, các cơ quan KTNN tùy theo đặc điểm thể chế kinh tế, chính trị xã hội, hệ thống pháp luật và điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia, cần nâng cao năng lực, chất lượng hoạt động, phát triển đội ngũ kiểm toán viên có đạo đức nghề nghiệp trong sáng, kiến thức và kỹ năng tương xứng với yêu cầu nghề nghiệp, đồng thời tăng cường chia sẻ kinh nghiệm trong khuôn khổ các chương trình hành động của Tổ chức Quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao (INTOSAI), Tổ chức Cơ quan kiểm toán tối cao châu Á (ASOSAI) và thỏa thuận hợp tác giữa các cơ quan KTNN./.

Nguồn: Trần Đình Thiên
 
Ðề: Vai trò của kiểm toán trong nền kinh tế thị trường??

Bạn tham khảo thêm nha:

Nghề kế toán, kiểm toán trong kinh tế thị trường, mở cửa và hội nhập
Triệt để từng bước tiếp cận và hoà nhập với các nguyên tắc, thông lệ, chuẩn mực phổ biến trên thế giới. Kiểm toán, lĩnh vực hoạt động mới phát sinh từ kế toán, phục vụ yêu cầu của kế toán cũng đã xuất hiện và phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây.Kế toán, kiểm toán không chỉ là công cụ quản lý kinh tế- tài chính thuần tuý, mà đã trở thành một lĩnh vực dịch vụ, một nghề nghiệp được thừa nhận trong nền kinh tế thị trường, mở cửa.
Trước yêu cầu của nền kinh tế chuyển đổi và trong tiến trình tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động kế toán, kiểm toán Việt Nam được phát triển cùng với việc tiếp tục tạo lập, hoàn chỉnh khuôn khổ pháp lý, tăng cường hoạt động các tổ chức nghề nghiệp. Một mặt, tiếp tục phát triển về số lượng, quy mô các tổ chức dịch vụ, phát triển loại hình dịch vụ và phạm vi cung cấp; đồng thời, phải tăng cường, thúc đẩy chất lượng dịch vụ và hiệu quả hoạt động, tăng cường quản lý nhằm phát triển các hoạt động kế toán, kiểm toán đáp ứng yêu cầu tăng trưởng và ổn định kinh tế. Mặt khác, phải đồng thời chú trọng phát triển các hoạt động dịch vụ kế toán, kiểm toán theo yêu cầu của nền kinh tế, theo xu hướng phát triển của các nước trong khu vực và quốc tế, tạo dựng và mở rộng giao lưu nghề nghiệp. Sự phát triển cả về số lượng, chất lượng, nâng cao năng lực nghề nghiệp sẽ từng bước khẳng định vị trí hoạt động nghề nghiệp kế toán, kiểm toán Việt Nam trong khu vực và quốc tế; thông qua hoạt động của các tổ chức nghề nghiệp kế toán (Hiệp hội Kế toán và Kiểm toán), tổ chức tư vấn nghề nghiệp.
Thực hiện các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, kể cả cam kết song phương và đa phương, từ giữa những năm 90 của thế kỷ XX, hệ thống kế toán Việt Nam đã có những cải cách một cách căn bản, toàn diện được xây dựng trên cơ sở tiếp cận và hoà nhập có chọn lọc với những nguyên tắc, thông lệ phổ biến của quốc tế về kế toán, phù hợp từng bước với đổi mới cơ chế kinh tế- tài chính. Khuôn khổ pháp lý về kế toán đã được tạo dựng và đang tiếp tục hoàn thiện, phát triển, các chế độ kế toán, chuẩn mực kế toán, kiểm toán được ban hành. Ngay từ 1989, Câu lạc bộ Kế toán trưởng các doanh nghiệp toàn quốc ra đời và sau đó, 1994, Hội Kế toán Việt nam (VAA), nay là Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam đã được thành lập với tính chất là tổ chức xã hội- nghề nghiệp, đảm nhiệm vai trò giao lưu, phổ biến, thông tin và nâng cao năng lực chuyên môn cho hàng chục nghìn hội viên là những người làm nghề kế toán và kiểm toán trong cả nước.
Hệ thống kế tóan, kiểm toán Việt Nam đã được xây dựng mới, tiếp tục phát triển với mục tiêu: Thiết lập và phát triển hệ thống kế toán, kiểm toán của Việt Nam trong một khuôn khổ pháp lý và trình độ nghiệp vụ chuyên môn đạt được phù hợp với tiến trình đổi mới của đất nước, tiếp cận và hoà nhập với các nước trên thế giới và trong khu vực; từng bước tạo cơ sở pháp lý cho việc công nhận của quốc tế đối với hệ thống kế toán Việt Nam.
Việc nghiên cứu và phổ biến rộng rãi các chuẩn mực quốc tế về kế toán (IAS), chuẩn mực quốc tế về kiểm toán, đã được triển khai ngay từ những năm đầu đổi mới cơ chế kinh tế và Việt Nam đã lựa chọn các chuẩn mực có khả năng áp dụng, xúc tiến việc soạn thảo và công bố hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS), chuẩn mực kiểm toán Việt Nam.
Chỉ sau ít năm hoạt động, với sự giúp đỡ của Liên minh châu Âu, của các tổ chức nghề nghiệp khu vực và thế giới như Hội Kế toán Công hòa Pháp, Thái Lan, úc…, Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam (VAA) đã được kết nạp là thành viên của Liên đoàn Kế toán Quốc tế (IFAC), của Hiệp hội Kế toán ASEAN (AFA). Những tổ chức này có vai trò rất quan trọng, tạo điều kiện thúc đẩy quá trình hội nhập trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán của các nước trong việc duy trì và phát triển nghề nghiệp kế toán và kiểm toán trên toàn thế giới và khu vực.
Kiểm toán nói chung và kiểm toán độc lập mới xuất hiện ở Việt Nam từ những năm đầu thập kỷ 90, thế kỷ XX với hai công ty kiểm toán đầu tiên là Công ty kiểm toán Việt Nam (****) và Công ty Dịch vụ kế toán & Kiểm toán Việt Nam (AASC), nhưng đã phát triển rất nhanh, sớm tạo dựng vị thế trong nền kinh tế. Đến nay, đã có gần 140 công ty dịch vụ kiểm toán, cả công ty nhà nước, công ty tư nhân, công ty 100% vốn nước ngoài và công ty liên doanh với hàng nghìn kiểm toán viên, kế toán viên hành nghề hoạt động tại hầu hết các thành phố và các tỉnh trên cả nước. Hoạt động dịch vụ kế toán, kiểm toán tiếp tục phát triển, được luật pháp Việt Nam thừa nhận trong Luật Kế toán (2003) và Nghị định của Chính phủ về kiểm toán độc lập.
Hoạt động dịch vụ kế toán, kiểm toán Việt Nam không ngừng được cải thiện về chất lượng dịch vụ và đã khẳng định được vị trí trong nền kinh tế quốc dân. Các công ty dịch vụ kế toán và kiểm toán đóng vai trò quan trọng trong việc trợ giúp, tư vấn cho các nhà đầu tư, các doanh nghiệp về luật pháp, chế độ, thể chế tài chính, kế toán của nhà nước, cũng như việc lập, ghi sổ kế toán, tính thuế, lập báo cáo tài chính.
Kế toán, kiểm toán- Nghề dịch vụ cao cấp trong môi trường kinh tế mới
Trên thực tế, dịch vụ kế toán, kiểm toán đang chất chứa tiềm năng phát triển mạnh mẽ. Nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi mạnh mẽ, hội nhập sâu, rộng với nền kinh tế thế giới. Với mục tiêu 500 nghìn doanh nghiệp đến năm 2010, trong đó, có nhiều cơ sở sản xuất, kinh doanh có quy mô vừa và nhỏ, các công ty sẽ không cần thiết phải tuyển dụng nhân viên kế toán hoặc kế toán trưởng. Thuê dịch vụ kế toán, thuê kế toán trưởng sẽ là giải pháp tối ưu trong việc tiết kiệm chi phí và đảm bảo tính chuyên nghiệp trong hoạt động kế toán, tài chính. Với tỷ trọng doanh nghiệp nhỏ và vừa đang chiếm tới 97% tổng số cơ sở sản xuất kinh doanh trên cả nước và chiếm tới 96% số doanh nghiệp đăng ký hoạt động theo Luật Doanh nghiệp đủ thấy tiềm năng phát triển to lớn của dịch vụ kế toán trong tương lai gần.
Đã có nhiều cơ sở sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ đi thuê người làm kế toán. Hầu hết các doanh nghiệp kiểm toán hiện nay đều cung cấp dịch vụ kế toán. Nhưng số người có chứng chỉ hành nghề kế toán, kiểm toán còn quá ít ỏi, phản ánh một phần rất nhỏ trong bức tranh khá sôi động của thị trường dịch vụ kế toán. Đội ngũ cung cấp dịch vụ kế toán hùng hậu nhất hiện nay lại chính là các kế toán trưởng, kế toán viên có kinh nghiệm của các công ty, đơn vị không hẳn đã là công ty dịch vụ kế toán. Những người này nhận chứng từ, sổ kế toán của các đơn vị để làm ngoài giờ. Một người có thể nhận thêm phần việc kế toán hoặc làm kế toán trưởng cho một hay nhiều công ty có quy mô nhỏ và vừa. Dịch vụ kế toán đang đua nở, đang phát triển khá mạnh và chưa có sự quản lý thống nhất của tổ chức nghề nghiệp.
Để hoạt động dịch vụ kế toán đi vào nền nếp, góp phần đảm bảo an ninh kinh tế, thúc đẩy nền kinh tế thị trường, Nhà nước đã và sẽ tiếp tục ban hành những văn bản quy phạm quy định về việc hành nghề, đăng ký hành nghề và quản lý hành nghề kế toán.
Dịch vụ kế toán rất cần các quy định pháp lý và sự quản lý nghề nghiệp
Dịch vụ kế toán được coi là một loại hình dịch vụ mới ra đời và quy định pháp luật đầu tiên về loại dịch vụ này được thể hiện trong Luật Kế toán và Luật Kiểm toán nhà nước. Nhà nước quy định cụ thể, chi tiết về đăng ký hành nghề và quản lý hành nghề kế toán. Theo quy định, doanh nghiệp dịch vụ kế toán và cá nhân chỉ được hành nghề sau khi đã đăng ký hành nghề với Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam. Nếu doanh nghiệp hoặc cá nhân hành nghề kế toán nhưng không đăng ký hành nghề sẽ bị xử phạt theo Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán.
Trách nhiệm và quyền hạn của Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam (VAA)
Theo Quyết định 47/2005/QĐ-BTC ngày 14/7/2006 của Bộ Tài chính, từ 1/1/2007, Bộ chuyển giao chức năng quản lý hành nghề kế toán cho VAA. Các cá nhân hành nghề kế toán và doanh nghiệp dịch vụ kế toán phải có trách nhiệm tuân thủ sự quản lý của VAA.
VAA tiếp nhận, xem xét hồ sơ đăng ký hành nghề kế toán và xác nhận danh sách người hành nghề kế toán của doanh nghiệp dịch vụ kế toán. VAA có nhiệm vụ thiết lập hồ sơ để theo dõi, quản lý đầy đủ, kịp thời, chính xác các thông tin liên quan đến cá nhân hành nghề kế toán và doanh nghiệp dịch vụ kế toán; quản lý về đạo đức nghề nghiệp và chuyên môn nghiệp vụ của người hành nghề kế toán; Thực hiện công khai danh sách doanh nghiệp dịch vụ kế toán và người hành nghề kế toán và cung cấp thông tin liên quan đến hoạt động hành nghề kế toán cho các cơ quan tổ chức có yêu cầu. VAA sẽ phải đảm nhiệm việc kiểm tra, kiểm soát chất lượng dịch vụ kế toán và đạo đức nghề nghiệp của người hành nghề kế toán.
Việc chuyển giao chức năng quản lý hành nghề kế toán của cơ quan nhà nước cho tổ chức hội nghề nghiệp thể hiện quyết tâm hội nhập thế giới của kế toán, kiểm toán Việt Nam vì theo thông lệ quốc tế, các hoạt động hành nghề đều do hội nghề nghiệp quản lý. Thông tư hướng dẫn đăng ký hành nghề kế toán với những quy định cụ thể về nhiệm vụ và quyền hạn của Hội nghề nghiệp trong quản lý danh sách và hoạt động hành nghề kế toán lại một lần nữa khẳng định sự đổi mới và quyết tâm này.
Tuy nhiên, để VAA quản lý dịch vụ kế toán, một loại hình dịch vụ có thể nói là đang mang tính tự phát vốn không hề đơn giản, đặc biệt là với rào cản tâm lý của người Việt vốn quen với việc quản lý của cơ quan nhà nước, chưa đặt nhiều niềm tin vào các tổ chức hội. Rõ ràng, để làm tốt chức năng này, không phải chỉ cần quyết tâm, nỗ lực của Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam mà phải là sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước với Hội. Qua quá trình kiểm tra các báo cáo tài chính, cơ quan thuế phát hiện được những sai phạm trong hoạt động hành nghề (nếu có) và thông báo cho cơ quan đảm nhận chức năng quản lý nghề nghiệp. Nhưng quan trọng hơn cả là việc xây dựng ý thức xã hội về nghề nghiệp này. Chỉ khi các công ty dịch vụ, các cá nhân hành nghề kế toán chủ động trong liên hệ với Hội trong việc đăng ký hành nghề, cập nhật thông tin liên quan để nhận được những quyền lợi hợp pháp của người hành nghề kế toán và phía các công ty, cơ sở kinh doanh có ý thức về việc được cung cấp dịch vụ đảm bảo chất lượng thì hoạt động dịch vụ kế toán mới đi vào nền nếp và phát triển lành mạnh.

Thanh Tùng
 
Ðề: Vai trò của kiểm toán trong nền kinh tế thị trường??

Cảm ơn các bạn rất nhiều!!:dancing:
 
Ðề: Vai trò của kiểm toán trong nền kinh tế thị trường??

lại gặp bé S trên Forum DKT rùi... :D
 
Ðề: Vai trò của kiểm toán trong nền kinh tế thị trường??

Vai trß cña kiÓm to¸n trong nÒn kinh tÕ hiÖn nay
Báo cáo tài chính của một doanh nghiệp có thể được rất nhiều người sử dụng, và dĩ nhiên người sử dụng cần có được những thông tin đáng tin cậy nhằm giúp họ đánh giá về thực trạng tài chính của doanh nghiệp để ra các quyết định kinh tế. Thế nhưng do nền kinh tế thế giới ngày càng phát triển tạo nên hệ quả là khr năng nhận được những thông tin tài chính kém tin cậy cũng sẽ gia tăng xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau,như là:
­ Sự khó khăn trong việc tiếp cận nguồn thông tin: Trong nền kinh tế hiện đại, người sử dụng thông tin để ra quyết định ( các nhà đầu tư, các chủ nợ…) khó có thể tiếp cận trực tiếp với thông tin tại đơn vị mà họ đầu tư hay chọn lam đối tác kinh doanh. Thay vào đó họ buộc phải sử dụng thông tin do đơn vị cung cấp. Điều này làm tăng rủi ro có thông tin bị sai lệch khi đến tay những người sử dụng.
­ Động cơ của người cung cấp thông tin: Người cung cấp thông tin thường có xu hướng trình bày thông tin theo chiều hường thuận lợi nhất cho mình. Chẳng hạn khi doanh nghiệp bán cổ phần, các thông tin về doanh thu, lợi nhuận… có thể bị khai tăng giả tạo, hay không được cung cấp đầy đủ…
­ Lượng thông tin phải xử lý và độ phức tạp của các nghiệp vụ kinh tế gia tăng, nhất là khi các hoạt động kinh doanh ngày càng đa dạng, quy mô của các tổ chức ngày càng lớn.
­ Chính vì thế, cầ có những giải pháp làm giảm rủi ro, chẳng hạn như:
­ Người sử dụng sẽ trực tiếp kiểm tra thông tin: Cách này thường được áp dụng trong một số trường hợp, thí dụ như các kiểm soát viên xác minh về số thuế của một doanh nghiệp. Thế nhưng, cách này rất khó áp dụng đối với đa số người sử dụng vì sẽ rất tốn kém về chi phí, gây trở ngại cho đơn vị, và nhất là đòi hỏi kiến thức và kỹ năng kiểm tra của người thực hiện.
­ Tăng cường trách nhiệm pháp lý với Hội đồng quản trị (hay Ban giám đốc): Do là người đại diện chính thức của doanh nghiệp trước các cổ đông và pháp luật, nên luật pháp thường bắt buộc họ phải chịu trách nhiệm về độ tin cậy của những thông tin tài chính do họ công bố.
­ Bắt buộc báo cáo tài chính phải được kiểm toán bởi kiểm toán viên độc lập: Lúc này, kiểm toán viên độc lập có trách nhiệm kiểm tra và cung cấp nhận xét về báo cáo tài chính, và họ có thể sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý nếu nhận xét không xác đáng về báo cáo tài chính.
Trong các giải pháp trên, cách sau cùng được xem là có hiệu quả nhất, vì với kỹ năng kinh nghiệm nghề nghiệp và sự độc lập của mình, kiểm toán viên độc lập sẽ mang lại độ tin cậy cho báo cáo tài chính đồng thời giúp tiết kiệm chi phí kiểm tra cho người sử dụng.
Đứng ở góc độ xã hội, hoạt động kiểm toán độc lập đối với báo cáo tài chính, khi được luật pháp qui định sẽ trở thành một công cụ bảo vệ sự ổn định của nền kinh tế, đặc biệt là đối với các quốc gia mà thị trường chứng khoán giữ một vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Tại các quốc gia này luật pháp thường qui định các công ty cổ phần yết giá ở thị trường chứng khoán khi công bố các báo cáo tài chính hàng năm phải đính kèm báo cáo kiểm toán của kiểm toán viên độc lập. Một số quốc gia còn mở rộng đối tượng kiểm soát bắt buộc (thường gọi là kiểm soát theo luật định) cho các doanh nghiệp khác khi mà qui mô doanh nghiệp lớn trên một mức độ nào đó.
Ở việt nam , hiện nay đối tượng kiểm toán bắt buộc khá rộng rãi, bao gồm các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tổ chức có hoạt động tín dụng, ngân hàng và quỹ hỗ trợ phát triển, tổ chức tài chính và doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm; các công ty cổ phần có yết giá trên thị trường chứng khoán, các doanh nghiệp nhà nước…
Đối với những nhà quản lý tại các doanh nghiệp, kiểm toán độc lập sẽ còn tạo nên giá trị gia tăng cho báo cáo tài chính của doanh nghiệp, và còn có thể giúp doanh nghiệp hạn chế được khả năng xảy ra các sai phạm về kế toán, tài chính…
 
Ðề: Vai trò của kiểm toán trong nền kinh tế thị trường??

Hệ thống kiểm toán Việt Nam thực trạng, định hướng và giải pháp phát triển:
Hệ thống kiểm toán ở VN – một trong những công cụ quản lý kinh tế - tài chính hữu hiệu, sản phẩm của nền kinh tế thị trường, của hội nhập kinh tế quốc tế đã được hình thành và có những bước phát triển đáng ghi nhận. Hệ thống kiểm toán gồm 3 phân hệ cấu thành là Kiểm toán Nhà nước (KTNN), kiểm toán độc lập và kiểm toán nội bộ. Các phân hệ có vị trí, vai trò và phạm vi hoạt động khác nhau, nhưng cùng thực hiện chức năng kiểm tra, kiểm soát đối với các hoạt động kinh tế - tài chính, có sự tương đồng nhất định về phương pháp chuyên môn nghiệp vụ.
Hoạt động kiểm toán độc lập được hình thành từ năm 1991, KTNN từ năm 1994, kiểm toán nội bộ từ năm 1997. Từ đó đến nay, các phân hệ kiểm toán đã dần khẳng định được vị trí, vai trò và có những đóng góp tích cực đối với quá trình quản lý, sử dụng tiết kiệm, đúng mục đích, có hiệu quả các nguồn lực tài chính và tài sản trong xã hội; góp phần làm lành mạnh các quan hệ tài chính - tiền tệ; thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và hoàn thiện các yếu tố của nền kinh tế thị trường ở VN.
1. Những thành tựu về phát triển của hệ thống kiểm toán VN:
Một là, pháp luật về kiểm toán sớm hình thành (văn bản quy phạm pháp luật về KTNN và về kiểm toán độc lập được ban hành vào năm 1994, về kiểm toán nội bộ năm 1997), đã tạo tiền đề cho sự ra đời và phát triển của các tổ chức kiểm toán. Đến nay, Nhà nước đã ban hành Luật KTNN, Nghị định về kiểm toán độc lập, quy định của Bộ Tài chính về quy chế kiểm toán nội bộ trong doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Đây là cơ sở pháp lý tạo điều kiện cho sự phát triển hệ thống kiểm toán ở VN. Bên cạnh đó, KTNN đã ban hành được hệ thống chuẩn mực KTNN và nhiều quy trình kiểm toán chuyên ngành áp dụng cho đối tượng kiểm toán cụ thể, Bộ Tài chính cũng đã ban hành 38 chuẩn mực kiểm toán để áp dụng trong hoạt động kiểm toán độc lập và kiểm soát chất lượng kiểm toán;
Hai là, sự phát triển của KTNN, kiểm toán độc lập và kiểm toán nội bộ đã góp phần thúc đẩy cải cách nền hành chính nhà nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và công cuộc đổi mới kinh tế của VN. Dù trong thời gian chưa dài, nhưng hệ thống kiểm toán đã khẳng định được vị trí, tác động và góp phần thúc đẩy công cuộc cải cách nền hành chính nhà nước và đổi mới cơ chế quản lý kinh tế ở VN. Nhà nước đã thực sự quan tâm đến hệ thống các tổ chức kiểm toán ở VN. Ngoài việc tạo lập những tiền đề pháp luật cho sự ra đời của các tổ chức này, Nhà nước đã nhanh chóng xây dựng, hoàn thiện các tổ chức kiểm toán;
Ba là, hoạt động của các tổ chức kiểm toán đã bước vào giai đoạn ổn định. Hoạt động KTNN đã có bước phát triển lớn mạnh, nhất là từ khi Luật KTNN có hiệu lực thi hành từ 2006. KTNN đã thực hiện kiểm toán với phạm vi ngày càng mở rộng. Kết quả kiểm toán được ghi nhận trong những năm qua không chỉ là con số tăng thu, tiết kiệm chi hàng ngàn tỷ đồng cho ngân sách nhà nước, mà quan trọng và ý nghĩa hơn là thông qua hoạt động kiểm toán của KTNN đã giúp cho các đơn vị được kiểm toán ngăn ngừa những tiêu cực, lãng phí, thất thoát tiền, tài sản; hoàn thiện hơn công tác quản lý, đảm bảo sử dụng nguồn lực tài chính quốc gia một cách tiết kiệm và hiệu quả hơn; KTNN đã cung cấp thông tin toàn diện, xác thực về tình hình quản lý tài chính và điều hành ngân sách của các cấp, các bộ ngành, các doanh nghiệp… cùng nhiều kiến nghị với Chính phủ, Quốc hội và các cơ quan thẩm quyền góp phần sửa đổi, bổ sung hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý tài chính và tăng cường hiệu lực quản lý. Các doanh nghiệp kiểm toán độc lập đã phát triển nhanh cả về mặt số lượng và đội ngũ KTV, thị trường ngày càng mở rộng. Ngoài hoạt động chính là kiểm toán và tư vấn, các công ty kiểm toán đã giữ vai trò quan trọng trong việc đào tạo, phổ biến, hướng dẫn chế độ, chính sách quản lý kinh tế tài chính, thuế, kế toán trong nền kinh tế quốc dân. Kiểm toán nội bộ tuy chưa phát triển, song cũng đã hình thành và bước đầu mang lại kết quả ở một số đơn vị, DNNN… Kiểm toán nội bộ đã có những đóng góp thiết thực cho việc kiểm soát, quản trị nội bộ; phát hiện và ngăn chặn kịp thời những vi phạm trong hệ thống quản lý của đơn vị. Trình độ của các KTV nội bộ từng bước được nâng cao, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu quản lý của đơn vị;
Bốn là, mối quan hệ giữa ba phân hệ kiểm toán đã bước đầu hình thành, trong đó KTNN và các doanh nghiệp kiểm toán độc lập đã phối hợp trong việc thực hiện kiểm toán đối với một số các DNNN, chương trình mục tiêu quốc gia; KTNN đã có những đóng góp nhất định trong hướng dẫn nghiệp vụ và sử dụng kết quả của kiểm toán nội bộ. Mặt khác, Hội Kế toán và Kiểm toán VN (VAA), Hội Kiểm toán viên hành nghề (VACPA) bước đầu đã thể hiện vai trò trong việc định hướng các hoạt động nghề nghiệp và thiết lập mối quan hệ giữa các phân hệ kiểm toán.
2. Những hạn chế của hệ thống kiểm toán VN:
Mặc dù đã đạt được những kết quả quan trọng trong xây dựng và phát triển hệ thống các tổ chức kiểm toán ở VN, song từ thực tiễn tổ chức và hoạt động của hệ thống kiểm toán VN còn những hạn chế chủ yếu sau:
- Khuôn khổ pháp lý về tổ chức và hoạt động của hệ thống kiểm toán chưa đầy đủ và đồng bộ: Địa vị pháp lý của KTNN và Tổng KTNN chưa được quy định trong Hiến pháp như hầu hết các nước trên thế giới, còn tình trạng không tương thích giữa các quy định về tổ chức và hoạt động KTNN; Chưa có luật về kiểm toán độc lập, hoạt động của kiểm toán độc lập hiện nay được điều chỉnh bằng Nghị định của Chính phủ chưa thực sự tạo lập được khuôn khổ pháp lý đủ mạnh cho sự phát triển các doanh nghiệp kiểm toán độc lập và độ tin cậy của các khách hàng kiểm toán và xử lý rủi ro trong hoạt động kiểm toán; Các quy định về kiểm toán nội bộ vừa thiếu, vừa không đủ hiệu lực thúc đẩy sự ra đời và phát triển của hệ thống kiểm toán nội bộ;
- Các phương pháp chuyên môn nghiệp vụ kiểm toán đặc biệt là quy trình, chuẩn mực, quy định về kiểm soát chất lượng kiểm toán của cả ba phân hệ kiểm toán mặc dù đã được chú trọng xây dựng và ban hành nhưng còn thiếu đồng bộ đã ảnh hưởng nhất định đến chất lượng hoạt động kiểm toán. Chưa triển khai được kiểm toán trong môi trường công nghệ thông tin, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác kiểm toán còn hạn chế.
- Sự phát triển về tổ chức của cả ba phân hệ kiểm toán chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn. KTNN cho đến nay đã có bước trưởng thành nhanh chóng về tổ chức và nhân sự nhưng năng lực kiểm toán vẫn chưa tương xứng với chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn được giao, đặc biệt là thiếu các KTNN khu vực để kiểm toán ngân sách địa phương. Các doanh nghiệp kiểm toán độc lập tuy số lượng phát triển khá nhanh nhưng năng lực nhìn chung còn hạn chế. Hệ thống kiểm toán nội bộ phát triển chậm, chủ yếu mới được hình thành ở một số Tổng công ty và ngân hàng thương mại Nhà nước;
- Hoạt động kiểm toán trong thực tế còn hạn chế cả về phạm vi, quy mô và chất lượng. KTNN mới chỉ chú trọng kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán tuân thủ, kiểm toán hoạt động còn chưa được triển khai nhiều. Các doanh nghiệp kiểm toán độc lập của VN còn hạn chế về kinh nghiệm hành nghề, năng lực và sức cạnh tranh, chất lượng kiểm toán chưa đáp ứng được yêu cầu của các đối tượng sử dụng thông tin. Chất lượng hoạt động kiểm toán nội bộ tại một số tổng công ty nhà nước còn nhiều hạn chế về quy mô và tính chuyên nghiệp; kiểm toán nội bộ chưa thật sự khẳng định được vai trò phục vụ quản lý nội bộ của đơn vị.
- Các phân hệ kiểm toán chưa tạo lập được những quan hệ chặt chẽ, có tính hệ thống; việc hỗ trợ, tác động lẫn nhau trong hoạt động còn rất hạn chế. KTNN là một tổ chức chủ đạo trong hệ thống kiểm toán trên thực tế vẫn chưa sử dụng các doanh nghiệp kiểm toán hỗ trợ cho hoạt động KTNN; chưa có tác động tích cực đến các cơ quan, tổ chức của Nhà nước để phát triển và hướng dẫn chuyên môn đối với bộ phận kiểm toán nội bộ. Các bộ phận kiểm toán nội bộ ở trong một số tổng công ty của Nhà nước hoạt động tương đối đơn độc, thiếu sự phối hợp với các phân hệ kiểm toán khác.
- Chưa có sự thống nhất quản lý nhà nước đối với ba phân hệ kiểm toán; định hướng phát triển của các hệ thống kiểm toán còn chưa thật rõ; chưa hạn chế được sự cạnh tranh tiêu cực của các doanh nghiệp kiểm toán độc lập; việc định hướng và quản lý đối với kiểm toán nội bộ của các cơ quan, tổ chức chưa rõ ràng. Hiện nay, Bộ Tài chính thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hoạt động kiểm toán độc lập nhưng hoạt động quản lý nhà nước còn hạn chế, chủ yếu tập trung ở khâu ban hành chuẩn mực kiểm toán độc lập, thủ tục thành lập doanh nghiệp, thi và cấp chứng chỉ KTV (Kiểm toán viên) độc lập. Việc kiểm soát, đánh giá chất lượng kiểm toán của các doanh nghiệp kiểm toán còn hạn chế. Vai trò của Hội Kế toán và Kiểm toán nhằm tạo ra sự liên kết và định hướng phát triển nghề nghiệp cho KTV chưa phát huy được hết tác dụng.
3. Các giải pháp phát triển hệ thống kiểm toán VN đến năm 2020:
Để phát huy vai trò của kiểm toán đối với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Nhà nước và các cơ quan, tổ chức kinh tế, các tổ chức kiểm toán phải thực hiện đồng bộ các giải pháp cho sự phát triển của hệ thống kiểm toán như sau:
(1) Hoàn thiện môi trường pháp lý của hoạt động kiểm toán. Kiểm toán chỉ hoạt động có hiệu quả và phát triển mạnh mẽ trong điều kiện môi trường pháp luật hoàn chỉnh và ổn định. Bởi vậy, điều kiện có tính tiên quyết cho sự phát triển của hệ thống kiểm toán là tạo lập môi trường pháp lý ổn định, phù hợp với yêu cầu quản lý kinh tế – tài chính phù hợp với năng lực trình độ quản lý và các thông lệ quốc tế.
Đối với KTNN: Tập trung tổ chức thực hiện Luật KTNN; xây dựng, sửa đổi pháp luật đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất các quy định về tổ chức, hoạt động KTNN; nghiên cứu đề xuất bổ sung Hiến pháp ở thời điểm thích hợp các quy định về địa vị pháp lý, tính độc lập của cơ quan KTNN và của Tổng KTNN; thủ tục, thẩm quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm Tổng KTNN nhằm đảm bảo một nền tảng vững chắc cho KTNN phát triển bền vững.
Đối với kiểm toán độc lập, sớm nghiên cứu xây dựng và ban hành Luật kiểm toán độc lập nhằm tạo lập môi trường pháp lý ổn định, phù hợp cho sự phát triển của kiểm toán độc lập; cần bổ sung quy định về kiểm toán bắt buộc đối với một số loại hình doanh nghiệp. Bổ sung quy định về chế độ chịu trách nhiệm khi cung cấp thông tin kiểm toán và bồi thường vật chất nếu thông tin bị sai lệch nhằm bảo vệ người sử dụng thông tin kiểm toán, đồng thời là điều kiện để nâng cao chất lượng dịch vụ kế toán, kiểm toán.
Đối với kiểm toán nội bộ, Nhà nước cần ban hành các quy định về thành lập, tổ chức và hoạt động đối với phân hệ kiểm toán này. Khuyến khích các nhà quản lý sử dụng kiểm toán nội bộ phục vụ cho hoạt động quản lý. Cần bổ sung quy định về việc tổ chức kiểm toán nội bộ tại các bộ, cơ quan trung ương, địa phương để kiểm soát ngân sách, tiền và tài sản nhà nước.
(2) Tăng cường năng lực, phân định chức năng, nhiệm vụ và xác lập mối quan hệ giữa các phân hệ trong hệ thống kiểm toán. Từng phân hệ phải chủ động phát triển nguồn nhân lực đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng. Để bắt kịp trình độ thế giới về kiểm toán, các phân hệ cần xây dựng chiến lược, kế hoạch đào tạo đội ngũ KTV tiếp cận trình độ quốc tế. Việc phát triển nguồn nhân lực với trình độ chuyên môn cao cần phải có chiến lược đào tạo của quốc gia, nhất là tại các trường đại học, học viện. Cùng với phát triển nguồn nhân lực, từng phân hệ kiểm toán cần phải bổ sung và hoàn thiện hệ thống chuẩn mực, quy trình kiểm toán; phương pháp chuyên môn nghiệp vụ; phát triển các loại hình kiểm toán và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào công tác kiểm toán. Ba phân hệ kiểm toán có tính độc lập với nhau, song chúng có sự tương hỗ chặt chẽ: Kiểm toán nội bộ, kiểm toán độc lập phát triển sẽ đảm bảo tính tuân thủ pháp luật và các thông tin tài chính sẽ minh bạch, do đó hoạt động KTNN sẽ giảm thiểu chi phí và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động. Sự phối hợp, bổ sung cho nhau giữa các tổ chức kiểm toán này sẽ giúp tăng cường chất lượng và hiệu quả kiểm toán; tạo hành lang pháp lý để các phân hệ kiểm toán sử dụng kết quả, trao đổi KTV trong một cơ chế phối hợp thống nhất.
(3) Đổi mới tổ chức công tác kiểm toán phù hợp với những vấn đề cải cách tài chính công, tài chính doanh nghiệp. Kinh tế VN trong quá trình phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế cũng phát sinh nhiều vấn đề mới về tài chính vĩ mô, vi mô và xuất hiện thêm đối tượng trực tiếp của kiểm toán như: các dự toán ngân sách, các chương trình, dự án đầu tư từ nguồn vốn viện trợ, tài trợ; thực hiện cam kết theo các nghị định thư, theo hiệp định của các chính phủ; các chỉ số quốc gia theo thông lệ quốc tế…Thực tế này đòi hỏi việc tổ chức công tác kiểm toán phải có những đổi mới cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, từng bước đa dạng hoá loại hình và lĩnh vực kiểm toán. Một số lĩnh vực như chứng khoán, đầu tư dự án, tài sản công… cần kết hợp kiểm toán tài chính với kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt động. Tăng cường chức năng tư vấn của hoạt động kiểm toán, phát triển, đa dạng hoá dịch vụ tư vấn của các doanh nghiệp kiểm toán độc lập.
(4) Tăng cường quản lý và kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán. Kết quả kiểm toán có ảnh hưởng rất rộng, đến nhiều cơ quan, tổ chức và cá nhân trong nền kinh tế, vì vậy Nhà nước cần tăng cường quản lý đối với hệ thống kiểm toán, có định hướng rõ ràng cho sự phát triển của các tổ chức kiểm toán; Cần có những biện pháp hữu hiệu kiểm soát chất lượng kiểm toán và hạn chế cạnh tranh tiêu cực trong việc cung cấp dịch vụ kiểm toán. Xây dựng quy định quản lý đối với kiểm toán nội bộ của các cơ quan, tổ chức quản lý và sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước.

Hội nghề nghiệp cần tăng cường các hoạt động hướng dẫn nghiệp vụ kiểm toán, chủ động xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho KTV, tổ chức thi và cấp chứng chỉ KTV độc lập. Hội cũng cần đưa ra các biện pháp hữu hiệu nhằm giám sát việc thực hiện chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp cũng như tăng cường chất lượng kiểm toán.
(5) Tăng cường nhận thức về hoạt động kiểm toán. Kiểm toán là loại hình hoạt động mới được du nhập vào VN từ đầu những năm 1990. Với khoảng thời gian đó chưa đủ để các nhà quản lý, các cơ quan nhà nước, xã hội và công chúng nhận thức đầy đủ vai trò, tác dụng của công cụ kiểm toán trong hoạt động quản lý, giám sát. Do vậy, việc đẩy mạnh tuyền truyền về vai trò, tác dụng của kiểm toán để các nhà quản lý, các cơ quan nhà nước, xã hội và công chúng hiểu là điều quan trọng để thúc đẩy sự phát triển của kiểm toán.
(6) Phân định chức năng, nhiệm vụ và xác lập mối quan hệ giữa hệ thống kiểm toán với hệ thống cơ quan thanh tra, kiểm tra, nhất là KTNN với Thanh tra Chính phủ, Thanh tra Tài chính nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của từng hệ thống và tránh lãng phí nguồn lực công trong các hệ thống này. Cần tăng cường mối quan hệ và cơ chế phối hợp giữa KTNN với hệ thống Thanh tra Chính phủ và Thanh tra Tài chính, nhất là công tác xây dựng kế hoạch và trao đổi thông tin, tránh chồng chéo trong quá trình tác nghiệp và xử lý kết quả. Bên cạnh đó, mỗi phân hệ kiểm toán cần sử dụng có hiệu quả kết quả thanh tra, kiểm tra nhằm giảm chi phí và nâng cao chất lượng kiểm toán.
(7) Đẩy mạnh hợp tác quốc tế về hoạt động kiểm toán. Với sự phát triển mạnh mẽ của các tổ chức quốc tế về kế toán, kiểm toán như IFAC, INTOSAI, ASOSAI… mà VN là thành viên thì việc trao đổi kinh nghiệm, kỹ năng nghề nghiệp mang tính toàn cầu là tất yếu và đó cũng là điều kiện quan trọng giúp cho các KTV, các tổ chức kiểm toán và hội nghề nghiệp kiểm toán của VN trao đổi kỹ năng nghề nghiệp, tiếp cận với phương pháp chuyên môn, nghiệp vụ kiểm toán mới và ngày càng phát triển mạnh mẽ. Mỗi phân hệ với những đặc thù của mình sẽ có những cách thức giao lưu, hợp tác quốc tế với các kênh khác nhau nhưng tất cả đều nhằm mục đích phát triển hệ thống kiểm toán VN đạt đến trình độ khu vực và thế giới.
 
Ðề: Vai trò của kiểm toán trong nền kinh tế thị trường??

bạn ơi! sao mà dài thế bạn có bài nào ngắn hơn ko?
mình sắp thị môn kiểm toán mà công nhận môn này khó thật.
bạn giúp mình trả lời câu này nữa nhé, cảm ơn nhiều
tại sao các cty kiểm toán độc lập được thành lập dưới hình thức là cty " trách nhiệm vô hạn"

---------- Post added at 09:52 ---------- Previous post was at 09:31 ----------

bà con ơi giúp mình với mình vào mạng tìm hoài mà ko được nè :khoc::khoc:
tại sao các cty kiểm toán độc lập được thành lập dưới hình thức là cty " trách nhiệm vô hạn"
giúp mình với nhé
cảm ớn các bạn nhiều ........................:cuutui:
 
Ðề: Vai trò của kiểm toán trong nền kinh tế thị trường??

công ty kiểm toán đọc lập thường là công ty TNHH nhưng cũng có thể là công ty hợp danh mà công ty hợp danh thì k có tư cách pháp nhân cho nên chịu trách nhiệm vô hạn
 
Ðề: Vai trò của kiểm toán trong nền kinh tế thị trường??

cũng đang muốn hỏi câu này
 

CẨM NANG KẾ TOÁN TRƯỞNG


Liên hệ: 090.6969.247

KÊNH YOUTUBE DKT

Cách làm file Excel quản lý lãi vay

Đăng ký kênh nhé cả nhà

SÁCH QUYẾT TOÁN THUẾ


Liên hệ: 090.6969.247

Top